Thuốc ho Bảo Thanh

Thuốc ho Bảo Thanh
Dạng bào chế:Siro

Thành phần:

Ô mai 12,5g; Bán hạ 2,5g; Mật ong 25g; Ngũ vị tử 1,25g;
Xuyên bối mẫu 10g;Qua lâu nhân 5,0g; Tỳ bà diệp 12,5g Viễn chí 2,5g; Sa sâm 2,5g; Khổ hạnh nhân 5,0g;
Phục linh 2,5g;Gừng 2,5g;Trần bì 2,5g;Cam thảo 2,5g
Cát cánh 10g;Tinh dầu bạc hà 2,5mg;
(cho 1 chai 125ml)
SĐK:VD-22646-15
Nhà sản xuất: Công ty TNHH Đông Nam Dược Hoa Linh - VIỆT NAM Estore>
Nhà đăng ký: Công ty TNHH Dược phẩm Nata - Hoa linh Estore>
Nhà phân phối: Estore>

Chỉ định:

Công năng

Bổ phế (Chữa phần gốc của bệnh theo quan điểm Đông y)

Trừ ho, hóa đờm (Chữa triệu chứng – Chữa phần ngọn của bệnh theo quan điểm Đông y)

Chủ trị

– Ho mãn tính, ho dai dẳng lâu ngày không khỏi do phế hư

– Ho tái đi tái lại do dị ứng thời tiết

– Ho do cảm lạnh, cảm cúm

– Ho gió, ho khan, ho có đờm

– Hỗ trợ điều trị viêm họng, viêm phế quản

ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN TÁC DỤNG

Thuốc ho bổ phế Bảo Thanh là thành quả kế thừa đặc sắc bài thuốc cổ phương Xuyên bối tỳ bà cao (lịch sử hơn 300 năm), gia thêm các vị thuốc dân gian Ô mai, vỏ quýt, mật ong.

Ô mai

Ô mai không chỉ là món ăn quen thuộc, được nhiều người Việt Nam ưa chuộng mà còn là vị thuốc dân gian giúp trừ ho, hóa đờm công hiệu, đặc biệt trong các trường hợp ho mãn tính, ho dai dẳng lâu ngày.

Ghi nhận công dụng của Ô mai trong điều trị các chứng ho, Hải Thượng Lãn Ông có phân tích: Tạng phế sắc trắng, là bẩm thụ khí của hành Kim, nó như cái tán, cái lọng che chở cho các tạng khác, không thể chịu được bất kì một vật gì làm chướng ngại. Tỳ là gốc sinh đờm, Phế là đồ chứa đờm. Nếu đờm ở Phế nhiều thì khí nghịch lên mà gây thành ho. Phế là chỗ then chốt, cửa ngõ của toàn thân, không chỗ nào quan trọng hơn chỗ đó. Do vậy, bệnh phế khí nghịch, nhiều đờm không thể không tìm cách trị gấp. Hải Thượng Lãn Ông viết: Ô mai có vị chua tính liễm, có thể thăng, có thể giáng, giúp thuận khí chỉ ho, hóa đờm. Điều đó khẳng định vai trò cốt yếu của Ô mai trong các bài thuốc trị ho, đặc biệt các chứng ho dai dẳng, lâu ngày không khỏi.

Mật ong

Theo dân gian, mật ong là một món ăn ngon, có tác dụng bồi bổ cơ thể đồng thời giúp giảm ho. Mỗi sáng uống một ly nước pha mật ong giúp cơ thể khỏe mạnh, trẻ lâu, phòng ngừa được nhiều bệnh tật. Khi bị ho kéo dài khiến cơ thể mệt mỏi, suy nhược, dùng mật ong sẽ giúp phục hồi sinh lực, bệnh mau khỏi hơn.

Từ hàng thế kỉ nay, mật ong vẫn là phương thuốc cổ truyền dùng trị ho và cảm lạnh. Công dụng này ngày càng được khoa học chứng minh và củng cố. Tiến sĩ Ian Paul, trưởng nhóm nghiên cứu trường đại học Dược bang Pennsylvania, Hershey (Mỹ), khi so sánh hiệu quả giảm ho của mật ong với Dextromethorphan (DM), một hoạt chất giảm ho được sử dụng phổ biến, đã kết luận: “Kết quả rõ rệt đến nỗi chúng tôi có thể khẳng định rằng mật ong tốt hơn hẳn các loại thuốc mua ở quầy”. Nghiêu cứu cũng được tiến hành trên trẻ nhỏ và cho kết quả tương tự: 105 trẻ từ 2 đến 18 tuổi, chia 2 nhóm: nhóm uống mật ong 30 phút trước khi đi ngủ và nhóm sử dụng DM có hương vị mật ong cũng 30 phút trước khi đi ngủ. Kết quả là những trẻ uống mật ong giảm được các cơn ho và co thắt hơn hẳn những trẻ sử dụng DM. Tiến sĩ Paul nói: “Sử dụng mật ong là một liệu pháp an toàn, hiệu quả mà các bậc cha mẹ nên sử dụng cho trẻ trên 1 tuổi khi chúng bị ho hay cảm cúm”.

Mật ong còn có tác dụng kháng khuẩn tự nhiên và làm dịu niêm mạc hầu họng, giúp phục hồi và tái tạo niêm mạc bị tổn thương. Vai trò của mật ong ngày càng được khẳng định trong hệ thống y học chính thống “Tổ chức y tế thế giới đã xem mật ong như một phương thuốc trị bệnh tiềm năng”.

Bài thuốc cổ phương “Xuyên bối tỳ bà cao”

Là bài thuốc Đông y trị ho nổi tiếng có lịch sử hơn 300 năm, được hệ thống hóa trong Dược điển, trở thành bài thuốc chính thống được sử dụng rộng rãi.

Xuyên bối tỳ bà cao phối hợp các vị dược liệu theo bố cục chặt chẽ của một bài thuốc Đông y gồm Quân – Thần – Tá – Sứ, có tác dụng bổ trợ lẫn nhau, tăng cường công năng: Bổ phế – Trừ ho – Hóa đờm.

Xuyên bối mẫu (với chữ “Xuyên bối” trong tên bài thuốc), là vị thuốc chính yếu, có dược tính mạnh, gọi là vị Quân, tương tự Vua của triều đình. Vị này đắng, tính bình, dưỡng âm, thanh phế, làm tan được đờm tụ, trừ được nhiệt độc, hóa đàm, chỉ khái, trị được các chứng phế ung, phế suy, ho lâu ngày, đờm đặc tanh hôi…

Bổ trợ cho Quân, là các vị Thần, có dược tính tương đối mạnh. Như Tỳ bà diệp, Sa sâm vị hơi đắng, tính bình, giúp thanh phế, hóa đàm, chỉ khái. Các vị Tá, mỗi vị một vai trò riêng, hỗ trợ đắc lực cho công cuộc trị bệnh của Quân và Thần cũng như của toàn bài thuốc như: Cát cánh, bán hạ vị cay, tính ấm, giúp hóa đàm, trục đàm công hiệu. Phục linh và Ngũ vị tử bồi bổ tỳ vị, đây là các tạng sinh ra đờm. Điều hóa hoạt động của tỳ vị sẽ hạn chế được đờm tích tụ tại phế, giúp nhuận phế, hóa đàm. Phục linh còn là vị thuốc lợi thủy, thẩm thấp, nhờ bổ thận âm mà chữa được chứng phế âm hư, tránh được nguy cơ trào nhiệt gây ho khan, phù hợp quan điểm thận thông thì phế thông.

Một số vị thuốc có tác dụng giải độc, sát trùng, bảo vệ đường hô hấp như trần bì, gừng tươi, bạc hà. Trong đó, trần bì có thêm tác dụng hóa đàm, gừng tươi tính ấm giúp điều hòa tính vị, và bạc hà có vị cay mát, dễ chịu. Qua lâu nhân chứa nhiều chất dầu, giúp nhuận tràng, thông táo, giúp khí ở đại tràng lưu thông, tránh được khí nghịch lên mà gây thành ho. Viễn chí kích thích nhẹ niêm mạc hầu họng, bài tiết niêm dịch, giúp long đờm rất tốt. Khổ hạnh nhân lại trấn tĩnh nhẹ trung khu hô hấp giúp kiềm chế ho hiệu quả. Nói chung, sự có mặt các vị thần vừa làm mạnh thêm công năng chính vừa tạo ra nhiều tác dụng phong phú cho bài thuốc.

Cam thảo là vị Sứ do có tác dụng dẫn thuốc, làm cho các vị thuốc khác dễ hấp thu vào cơ thể, lại điều vị, giúp người bệnh dễ uống. Đây còn là vị thuốc long đờm, giảm ho hiệu quả.

Công dụng chính của các vị thuốc được tóm tắt lại trong bảng sau:

Thành phần                         Tác dụng
Vị Quân Xuyên bối mẫu Trừ ho, hóa đờm, dưỡng âm, thanh phế
Vị Thần Tỳ bà diệp, Sa sâm Thanh phế, hóa đàm, chỉ khái
Vị Tá Cát cánh, Bán hạ Hóa đàm, trừ đàm
Phục linh, Ngũ Vị Tử Bồi bổ, tăng sức đề kháng
Trần bì, Gừng tươi, Tinh dầu bạc hà Kháng khuẩn, Hóa đàm
Qua lâu nhân Thuận khí, chỉ khái
Viễn chí Long đàm
Khổ hạnh nhân Trấn tĩnh trung khu hô hấp
Vị Sứ Cam thảo Điều vị, dẫn thuốc

Liều lượng - Cách dùng

– Trẻ em dư­ới 3 tuổi: ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 ml.

– Trẻ em trên 3 tuổi: ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 ml.

– Ngư­ời lớn: ngày uống 3 lần, mỗi lần 15 ml

– Dùng được cho phụ nữ có thai trên 3 tháng và phụ nữ cho con bú.

* Thời gian dùng thuốc tùy thuộc vào mức độ trầm trọng của bệnh, thời gian dùng thuốc tối thiểu là 5 ngày.

Vì thuốc có tác dụng bổ phế, nên khi hết triệu chứng bệnh, vẫn tiếp tục uống thêm 2 – 3 ngày nữa, và uống hết số thuốc trong chai.

Để thuốc dễ uống và nhanh phát huy tác dụng, nên pha loãng siro thuốc với nước ấm hoặc uống từ từ.

Thông tin thành phần Bán hạ

Mô tả:

Bán hạ là loại thân củ. Củ hình tròn cầu hoặc tròn dẹt. Lá có cuống dài, về mùa xuân cây mọc 1-2 lá, dài 3-33cm, lá đơn chia làm 3 thùy, tùy theo tuổi cây mà lá mọc có khác nhau về hình dạng, cuống lá dài lá màu xanh, nhẵn bóng không có lông, lúc cây còn nhỏ lá đơn, hình trứng hay hình tim, đuôi nhọn mép lá nguyên hoặc hơi có làn sóng, gốc lá hình mũi tên, cây 2-3 tuổi lá có 3 thùy, hình bầu dục hay hình kim phình giữa, hai đầu nhọn. Cây 2-3 tuổi mới có hoa, hoa hình bông nở vào đầu mùa hạ, hoa có bao lớn, bao màu xanh, trong bao có hoa tự, hoa cái mọc ở phía dưới, màu xanh nhạt, hoa đực mọc ở bên trên, màu trắng, đoạn trên cong hoa đài nhỏ. Quả mọng hình bầu dục, dạng trứng. 

Địa lý:

Có nhiều ở Trung quốc, mọc hoang và trồng sản xuất. Nhân dân Trung quốc có tập quán cho Bán hạ sản xuất ở các tỉnh Hồ bắc, Hồ nam, An huy, Sơn đông có phẩm chất tốt nhất. Ở các tỉnh như Giang tô, Triết giang, Tứ xuyên, Vân nam, Quý châu, Giang tây, Quảng tây cũng có sản xuất vị này.Việt Nam còn phải nhập của Trung Quốc.

Cây thuốc Bán hạ

Thu hái, sơ chế: Thu hoạch vào mùa hè, chọn củ đào về rửa sạch đất cắt bỏ vỏ ngoài (màu vàng tro) và rễ tơ phơi khô. 

 Mô tả dược liệu:
 

Dược liệu Bán hạ hình cầu tròn hoặc hình tròn dẹt, hoặc dẹt nghiêng, đường kính 0,7-2cm. Mặt ngoài mầu trắng hoặc mầu vàng nhạt, phần trên thường tròn, phẳng, ở giữa có chỗ lõm, đó là vết của thân, mầu vàng nâu, chung quanh chi chít vết rễ chấm nhỏ, mặt dưới thường hình tròn, tầy, bóng hoặc không phẳng, mầu trắng. Chất cứng, mặt bổ dọc hình quả Thận, có bột, mầu trắng, bóng mịn. Loại củ già hoặc khô thì mầu trắng tro hoặc có vân mầu vàng, không mùi, vị cay, nhấm thấy dính, tê lưỡi, ngứa họng (Dược Tài Học).

Bào chế:

+ Vì Bán hạ dùng sống có độc, vì vậy khi dùng uống trong, cần phải bào chế. Cách bào chế có Pháp bán hạ, Tô bán hạ (chế với váng sữa) ngoài ra còn có Bán hạ khúc để dùng có tác dụng giải uất trừ đàm. Sau đây là các phép bào chế:

- Bào chế Pháp Bán hạ: Lấy Bán hạ sạch ngâm nước chừng 10 ngày cho đến khi bột trắng nổi lên thì vớt ra, rồi ngâm tiếp với Bạch phàn (cứ 50kg Bán hạ cho 1kg Bạch phàn). Ngâm 1 ngày rồi lại thay nước, đến khi nhấm vào miệng không còn cảm giác tê cay thì vớt ra, phơi trong râm (tránh nắng). Ngoài ra còn có cách khác là giã dập Cam thảo hòa với nước vôi, lắng gạn bỏ cặn rồi để Bán hạ vào ngâm. Quấy trộn hàng ngày đến khi màu vàng thấm đều vào bên trong vớt ra phơi trong râm đến khô (Cứ 50kg Bán hạ thì dùng 8kg Cam thảo và 10kg vôi cục) (Dược Tài Học).
 

- Bào chế Khương Bán hạ: Bán hạ đã được bào chế theo pháp Bán hạ như trên, đến khi vị thuốc không còn tê cay thì xắt lát Gừng sống rồi cho Bạch phàn và Bán hạ vào đun cho thấm. Lấy ra phơi qua cho ráo nước, cắt thành từng miếng phơi khô (Cứ 50kg Bán hạ thì dùng 12,5 kg Gừng sống 6,5kg Bạch phàn) (Dược Tài Học). 

- Bào chế Thanh Bán hạ: Lấy Bán hạ đã biến chế theo Pháp bán hạ như trên, đến khi vị thuốc không còn tê cay, thêm Bạch phàn và nước đun kỹ, lấy ra phơi qua cho ráo nước ủ ấm rồi xắt thành phiến, lại phơi trong râm mát (Cứ 50kg Bán hạ thì dùng 6,5kg Bạch phàn) (Dược Tài Học).
 

- Bào chế Bán hạ khúc: Dùng Bán hạ sống đồ vào nồi nước, dùng một chút phèn chua đun sôi ngâm 1 đêm, hôm sau lại đun nước khác để thay nước cũ đi, làm 7 ngày 7 đêm như vậy, rồi phơi khô, tán bột. Dùng nước Gừng hòa với hồ làm thành Bánh sao vàng (Trung Dược Đại Từ Điển). 

+ Dùng Bán hạ 160kg, Bạch giới tử 80g, giấm chua 200g. Cho Bạch giới tử giã nhỏ vào giấm khuấy đều, thêm Bán hạ vào ngâm trong 1 đêm. Lấy ra, rửa sạch hết nhớt mà dùng (Lôi Công Bào Chích Luận). 

Bảo quản:

Để nơi khô ráo không được ẩm ướt, Bán hạ ít bị mối mọt. Nếu thấy mốc có thể lấy nước rửa sạch phơi khô, dùng Lưu hoàng xông, phơi khô, cất như cũ.

Tác dụng :

Tính vị:

+ Vị cay, tính bình (Bản Kinh).

+ Sống: tính hơi hàn; Chín: có độc (Biệt Lục).

+ Rất độc (Dược Tính Bản Thảo).

+ Vị cay tính ấm, có độc (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Quy kinh:

+ Vào kinh Phế, tỳ, Vị (Lôi Công Bào Chích Luận).

+ Vào kinh thủ Dương minh Vị, thủ Thái âm Phế, thủ Thiếu âm Tâm (Bản Thảo Hối Ngôn).

+ Vào kinh Tỳ, Vị (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Tác dụng của bán hạ: Táo thấp, hóa đàm, giáng nghịch, chỉ thổ

Chỉ định :

Trị ho suyễn, khí nghịch do đàm thấp thủy ẩm, thấp trệ trung tiêu, nôn mửa bụng đầy, đinh nhọt, sưng tấy, dùng sống tán bột, đắp ngoài.

Tác dụng dược lý:

+ Tác dụng cầm nôn: Bán hạ chế thành hoàn và nước sắc Bán hạ có tác dụng cầm nôn. Cao lỏng Bán hạ, bột Bán hạ (chế với nhiệt độ cao) cũng có tác dụng cầm nôn. Nhưng Bán hạ sống ngược lại, lại có tác dụng gây nôn (Trung Dược Học).

+ Tác dụng giảm ho: Nước sắc Bán hạ cho mèo được gây ho nhân tạo uống, có tác dụng giảm ho nhưng kém Codein. Thuốc cũng có tác dụng giảm ho nếu chích vào tĩnh mạch. Chế phẩm của Bán hạ cho thỏ uống, có tác dụng làm giảm bớt tiết nước miếng do chất Pilocarpine. Chế phẩm của Bán hạ cho chuột cống được gây bụi phổi uống, kết quả phân tích tế bào chứng minh thuốc có tác dụng làm chậm quá trình bệnh. Cho dùng thuốc càng sớm, kết quả càng tốt (Trung Dược Học).

+ Bán hạ có tác dụng giải độc đối với trường hợp nhiễm độc Strychnin và Acetycholin (Trung Dược Học).

+ Protein Bán hạ với liều 30mg/kg đối với chuột nhắt, có tác dụng chống việc có thai sớm. Bán hạ sống ngâm kiệt có tác dụng chống rối loạn nhịp tim đối với súc cật thực nghiệm (Trung Dược Học).

+ Cồn loãng hoặc nước ngâm kiệt Chưởng diệp Bán hạ (Pinellia pedatisect Schott) có tác dụng ức chế rõ rệt đối với ung thư và tế bào Hela trên súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học).

+ Thành phần độc của Bán hạ khó hòa tan trong nước, còn thành phần có tác dụng cầm nôn và giảm ho có thể hòa vào nước nóng. Thành phần có độc không bị phá hủy bởi nước Gừng đơn độc mà bị Bạch phàn (Phèn chua) làm cho hết độc (Trung Dược Học).

Độc tính:

Liều LD50 của Bán hạ sống chích vào màng bụng chuột là 13g/kg. Bán hạ sống uống quá liều dễ bị ngộ độc. Ăn Bán hạ sống miệng lưỡi có cảm giác tê. Uống liều lớn làm cho miệng và họng có cảm giác tê, cay mạnh, ngứa, nóng bỏng, sưng, tiết nước miếng, muốn nôn, nôn, nói ngọng, khan tiếng, miệng há ra khó. Trường hợp nặng sẽ bị nghẹt thở, khó thở dẫn đến tử vong (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Liều lượng - cách dùng:

Bán hạ qua nhiều khâu chế biến khác nhau, nên dùng cũng khác.

Pháp Bán hạ dùng trong trường hợp táo thấp, hóa đàm.

Khương Bán hạ dùng trong trường hợp giáng nghịch, chỉ ẩu.

Bán hạ khúc dùng trong trường hợp kiện vị tiêu thực.

Còn Bán hạ sống chỉ dùng bên ngoài ít khi dùng để uống.

Bài thuốc

- Bài Bán hạ bạch truật thiên ma thang

Bán hạ chế, Thiên ma, Quất hồng-đều 6-8g, Bạch linh, Bạch truật- đều 8-12g, Cam thảo 2-4g, Gừng tươi 2 nhát, Đại táo 2 quả. Sắc, chia uống vài lần trong ngày.

Có tác dụng kiện Tỳ, táo thấp, hóa đờm, tức phong.

Trị đau đầu chóng mặt, đờm nhiều, ngực đầy, do phong đỏm gây nên, rêu lưỡi trẳng nhơt, mạch huyền, hoat.

(Chú ý: đau đầu chóng mặt do Can dương thịnh, âm hư không dùng được bài này).

“Kim quỹ yếu lược”

- Bài Bán hạ hậu phác thang

Bán hạ 8-16g, Hậu phác 8-12g, Bạch linh 8-12g, Tô diệp 6- 12g, Gừng tươi 8-12g.

Sắc, chia uống vài lần trong ngày.

Có tác dụng hành khí, khai uất, giáng nghịch, hóa đờm.

Trị đỏm khí uất kết, trong họng như có vật ngăn trở, nhô nuốt khó khăn, ngực sườm đầy tức, đau, hoặc ho, khó thở, hoặc nôn, rêu lưỡi trắng. nhuân hoat, mạch huyền hoat hoãc huyền hoãn.

(Âm hư, đờm hỏa uất kết không nên dùng bài này).

- Bài Bán hạ tả tâm thang

Bán hạ chế 8-10g     Nhân sâm        8-12g

Hoàng cầm 8-12g     Can Khương    8-12g

Hoàng liên  4-8g     Chích Thảo       4-8g

Đại táo 4 quả

Sắc, chia uống vài lần trong ngày. Có tác dụng hòa Vị, giáng nghịch, khai kết, trừ bĩ.

Trị Vị khí bất hòa, gây nên vùng thượng Vị đầy tức, nôn khan, sôi bụng, tiêu chảy, rêu lưỡi nhớt, vàng mỏng. mạch huyền tế sác.

Thông tin thành phần Mật ong

Mô tả:

Mật ong là chất lỏng sánh, mùi thơm, vị rất ngọt. Có rất nhiều giống ong cho mật. Tại Sapa-Lào Cai người ta phân biệt loại ong muỗi cho mật trắng và ong khoái cho loại mật màu vàng. Những giống ông đều thuốc lớp Cánh mỏng(Hymenoptera), họ ong Apidae.
Ong sống thành đàn từ 25.000 – 50.000 con, trong các tổ ong chúng làm lấy trên những cây ở rừng hoặc trong các thân cây đục lỗ hoặc các hòm đặc biệt, mà người ta làm sẵn cho nó. Càng ngày người ta càng chú ý phát triển nuôi ong để lấy mật, vừa để tăng thu hoạch hoa màu.

Trong một số tổ ong, không phải con ong nào cũng đi lấy và làm ra mật. Mỗi tổ ong đều có 3 loại: ong chúa, ong đực, ong thợ.

Ong chúa là ong cái duy nhất cả đàn. Ong này chỉ có nhiệm vụ đẻ trứng. Ong chúa dài và to hơn các con ong đực và ong thợ, thân hình mảnh dẻ và cánh ngắn hơn. Ong chúa cũng do một cái trứng như các trứng ong khác, nhưng từ khi nở ra cho đến khi thành nhộng, ấu trùng ong chúa được nuôi bằng một thứ mật đặc biệt chứa trong một ổ riêng do ong thợ xây thêm bên cạnh tầng. Thứ mật ong đặc biệt này gọi là mật ong chúa hay sữa ong hay sữa chúa. Ong chúa sống 3-4 hoặc 5 năm, lâu gấp 50 lần ong thợ. Ong chúa không làm ra mật chỉ ăn mật các con ong khác đem về.
Ong đực xuất hiện vào mùa hè, cũng không làm ra mật mà ăn thức ăn có sẵn trong tổ. Đời sống ong đực ngắn ngủi chỉ được 1-2 tháng. Sang thu, ong đực bị đuổi ra khỏi tổ và chết trước thềm tổ ong.

Ong thợ đi lấy mật, chiếm đa số trong tổ ong. Những con này nhỏ ngắn gọn gàng, bé hơn ong chúa và ong đực. Tuổi thọ trung bình của ong thợ thay đổi tùy theo lứa ong. Những lứa sinh ra vào mùa xuân và hạ thường chỉ sống khoảng 6 tuần lễ, những lứa sinh ra vào mùa thu lại sống 6 tháng.
Tính chất mật ong thay đổi tùy theo loại hoa. Trong mùa hoa người ta tính một ong thợ có thể dừng cánh trên 250 triệu bông hoa.

Lấy mật

Ta có thể lấy mật vào 3 mùa xuân, hạ, thu. Nhưng tốt nhất vào xuân hạ. Sang thu đông mật vừa ít lại vừa ảnh hưởng tới đời sống của con ong vì phải để ong có thức ăn qua mùa rét lạnh không có hoa. Hàng năm Việt Nam thường lấy mật vào tháng 3,6 đôi khi vào cả tháng 9.

Thường lấy mật vào buổi sáng và trưa là lúc ong bay di ra ngoài nhiều, nhấc cầu của tổ ong lên dùng dao sắc, lưỡi mỏng cắt lấy tầng ong để lại tầng có nhộng và ấu trùng và những tầng đang xây dở dang. Cắt tầng thành những miếng nhỏ, đăth trên các thanh tre kê ở mạt chiếc chậu khô sạch, rồi đem phơi nắng. Nhờ sức nóng của mặt trời sáp của tầng bị chảy lỏng, mật đươc giải phóng và chảy xuống thau. Loại mật này tốt nhất có màu vàng nhạt.
Sau đó đung nóng và ép nhẹ sẽ được một thứ mật màu sẫm hơn. Cuối cùng đun nóng già và ép kĩ hơn thì được loại mật có màu sẫm hơn nữa vì một số mật bị cháy thành caramen, cho màu nâu sẫm. Hai loại mật sau kém hơn vì có lẫn sáp và một số tạp chất khác.
Hiện nay tại các nước sản xuất nhiều mật ong người ta dùng máy li tâm để lấy mật.

Tính chất của mật ong

Tính chất mật ong thay đổi tùy theo từng vùng, từng tỉnh và từng thời kỳ lấy mật. Đặc biệt, mật ong có thể có chất độc nếu ong hút mật ở những cây coa hoa độc như phụ tử, hoa thuốc lá, cà độc dược.
Mùi và vị của mật ong phụ thuốc vào loại hoa có trong vùng. Đó là cơ sở khoa học để phân biệt mật ong từng tỉnh như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Ninh...
Khi soi mật ong dưới kính hiển vi, ta sẽ thấy phấn hoa của nhiều loại cây khác nhau, người ta có thể dựa vào sự có mặt của một số loại phấn hoa để xác định mật ong của vùng nào.
Có loại mật ong màu vàng nhạt mặt gợn như đường có kết tinh ở dưới. Có người cho đó là loại tốt nhất. Nhưng thực tế cũng có loại mật ong lỏng trong, không đóng đường mà vẫn tốt và có loại mật ong có màu nâu sẫm hơn, cũng là loại mật ong tốt. Hiện nay chúng ta chưa chưa thể dùng nhận xét bên ngoài để đánh giá mật ong tốt xấu hoặc thực giả, mà phải nghiên cứa thành phần hóa học.

Thành phần hóa học của mật ong 

Mật ong là mật hoa được ong chế biến và cô đặc lại.
Trong mật hoa tỷ lệ nước chiếm 40-80%, còn trong mật ong chỉ có 15-20% nước. Thành phần mật ong thường và mật ong chúa cũng khác nhau.
Trong mật ong thường có 65-70% glucose và levunose, 2-3% saccarose. Ngoài ra còn có muối vô cơ, các acid hữu cơ, các men tiêu hóa chất béo, chất bột, men tiêu hóa chất đường, một ít tinh bột, protid, sáp, sắc tố, chất thơm, phấn hoa. Mật ong nhật bản có chứa acid pantotenic, acid nicotinic, acetylcolin, vitamin A,D,E.
Trong mật ong chúa hay sữa chúa tỷ lệ đường ít hơn, nhiều chất mỡ, chất đạm và vitamin. 

Phát hiện giả mạo: người ta thường làm giả mật ong bằng mật mía, nước thủy phân tinh bột, hoặc siro. Mật ong của những con ong ăn đường hoặc mật mía có tỷ lệ saccarose cao. Ngoài việc định lượng các thành phần của mật ong người ta làm những thí nghiệm sau đây:
- Pha một phần mật ong 2 phần nước. Dung dịch này phải có phản ứng acid vì trong mật ong có các acid hữu cơ. Nhưng không được có các acid hữu cơ.

+ Mật ong pha loãng với nước rồi lọc, thêm acid nitric loãng và bạc nitrat không được có tủa tức là có acid hydroclorid.
+ Thêm Bari clorua không được có tủa tức là có acid sunfuric.

- Mật ong thêm dung dịch iod không được ngả màu đỏ (chứng tỏ có dextrin) hay màu xanh (có tinh bột).

- Mật ong thêm oxalat amon và aicd acetic không được kết tủa.

- Soi kính hiển vi một giọt mật ong chỉ được thấy ít mảnh sáp, ít hạt phấn hoa..

- Ta có thể định lượng acid phosphoric trong tro của mật ong: Mật ong tự nhiên có chừng 0,01-0,03% P2O5, trong khi mật nhân tạo chỉ có rất ít.

Tác dụng :

- Mật ong là vị thuốc bổ

- Mật ong có thể giảm độ acid của dịch vị, độ acid của dạ dày trở thành bình thường và làm cho hết các triệu chứng đau xót khó chịu của bệnh loét dạ dày và ruột.

- Mật ong có thể dùng trong việc điều trị chứng bệnh về gan, túi mật, và một vài bệnh về thần kinh. Mật ong còn là thứ thuốc an thần rất tốt cho giấc ngủ ngon làm bệnh nhân đỡ nhức đầu.

- Mật ong còn có tác dụng chống lại một số vi khuẩn.

- Mật ong có tính chất phóng xạ.

Chỉ định :

Mật ong được dùng làm thuốc từ lâu. Theo tài liệu cổ mật ong có vị ngọt tính bình, vào 5 kinh tâm, phế, tỳ vị và đại tràng. Có tác dụng thanh nhiệt, bổ trung, nhuận táo, hoạt trường, giải độc hết đau. Dùng chữa tỳ vị hư nhược, táo bón, ho, đau bụng, giải độc ở đầu, dùng ngoài chữa lở miệng vết thương bỏng.

- Thuốc bổ cho người lớn và trẻ em, chữa bệnh loét dạ dày và ruột, an thần, chữa nhức đầu và một số bệnh thần kinh, bệnh ho khan, viêm họng.

Ngày dùng 20-50g. Có khi người ta chế mật ong thành thuốc tiêm làm thuốc bổ toàn thân.

- Dùng ngoài chế thành thuốc mỡ hay nguyên chất đắp lên các mụn nhọt vết loét, vết thương.

- Làm tá dược chế thuốc viên hay các loại thuốc khác.

Liều lượng - cách dùng:

- Đơn thuốc chữa loét dạ dày tá tràng: Mật ong 10g, cam thảo sống 10g, trần bì 6g, nước 400ml. Trước hết sắc cam thảo và trần bì với nước cô cạn còn khoảng 200ml thì lọc, bỏ bã. Thêm mật ong vào chia làm 2 hay 3 lần uống trong ngày.

- Đơn thuốc chữa cao huyết áp, táo bón: Mật ong 60g, vừng đen 50g. Trước hết nấu chín vừng, giã nát rồi thêm mật ong và chừng 200ml nước vào khuấy đều, chia làm 2 lần uống trong ngày sáng và tối.

- Mật ong chúa làm thuốc bổ cao cấp: ngày uống 2-3ml, ngậm trong miệng đến khi tan hết.
Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

Bạn đọc phản hồi ( 0 )

Bình luận

Hỏi đáp
Thuốc biệt dược
Viên ngậm Bảo Thanh

Viên ngậm Bảo Thanh

SĐK:VD-203156-13
Gừng 0.1g, Bạc hà 0.1mg, Qua lâu 0.2g, Xuyên bối mẫu 0.4g, Cát cánh 0.4g, Tỳ bà diệp 0.5g, Viễn chí ...

Terpin hydrat

SĐK:VD-33938-19
Mỗi 25 kg Terpin hydrat từ: Tinh dầu thông 50 kg; Acid sulfuric 12,5 kg; Cồn 96 % 42,51 l; Nước tinh ...

Olesom

SĐK:VN-22154-19
Mỗi 5ml sirô chứa: Ambroxol hydrochlorid 30 mg

Sirô Hedera

SĐK:VD-31921-19
Mỗi 5ml chứa: Cao khô lá thường xuân (11%) 0,035g

Adiovir

Adiovir

SĐK:VN-21589-18
Mỗi 5ml sirô chứa: Ambroxol hydrochlorid 15mg

Prospan Cough Liquid

Prospan Cough Liquid

SĐK:VN-17872-14
Cao khô lá thường xuân chiết bằng ethanol 30% theo tỷ lệ (5-7,5)/1 35mg/5ml

Thuốc gốc

Dextromethorphan

Dextromethorphan hydrobromide

Umeclidinium + vilanterol

Umeclidinium + vilanterol

Beclomethasone

Beclomethasone dipropionate

Guaifenesin

glyceryl guaiacolate

Guaiphenesin

glyceryl guaiacolate

Glycopyrronium

Glycopyrronium

Aminophylline

Aminophylin

Terpin hydrat

Terpin hydrate

Lá vông

Erythrina variegata

Thông thảo

Tetrapanax papyrifera

Riềng khô

Alpinia officinarum Hance

Nhôm hydroxyd

Nhôm hydroxyd khô

Hà thủ ô đỏ

Hà thủ ô đỏ chế

Ô dược

Lindera myrrha Merr

Thuoc biet duoc | Thuốc biệt dược | Thuốc | Thuoc | Nhà thuốc | Phòng khám | Bệnh viện | Công ty dược phẩm
- Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn chỉ mang tính chất tham khảo - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
"Thông tin Thuốc và Biệt Dược" - Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn