Nghiên cứu Y - Dược Thứ sáu, ngày 14/8/2020

Phương pháp mới để xác định và nhắm mục tiêu các ổ chứa vi rút HIV ẩn náu khi điều trị bằng liệu pháp ART

Các nhà khoa học có thể đã phát hiện ra một phương pháp mới để xác định và nhắm mục tiêu các ổ chứa vi rút HIV ẩn náu trong quá trình điều trị bằng liệu pháp kháng vi rút (ART). Những phát hiện này có thể có ý nghĩa chuyển dịch trong việc cải thiện việc chăm sóc lâu dài cho người nhiễm HIV.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
ART đã làm tăng đáng kể sức khỏe và tuổi thọ của các cá nhân nhiễm HIV, ngăn chặn sự nhân lên của vi rút trong các tế bào miễn dịch của vật chủ và ngăn chặn sự tiến triển của bệnh; tuy nhiên, lượng vi rút thấp nhưng vẫn tồn tại trong máu và các mô mặc dù đã được điều trị. Sự tồn tại của vi rút hạn chế khả năng phục hồi miễn dịch và có liên quan đến mức độ viêm mãn tính, do đó những người nhiễm HIV được điều trị có nguy cơ phát triển một số bệnh cao hơn.

Sự lây nhiễm dai dẳng này bắt nguồn từ khả năng HIV ẩn náu trong một quần thể tế bào T CD4 hiếm gặp. Việc tìm ra các dấu hiệu mới để xác định ổ chứa vi rút là điều tối quan trọng để đạt được sự loại trừ HIV.

Tác giả tương ứng Mohamed Abdel-Mohsen cho biết: “Với những tiến bộ gần đây mà chúng tôi đang thực hiện trong lĩnh vực glycobiology và glycoimmunology, rõ ràng là các phân tử đường hiện diện trên bề mặt tế bào miễn dịch đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh chức năng và số phận của chúng. , Tiến sĩ, trợ lý giáo sư tại Trung tâm Tiêm chủng & Liệu pháp Miễn dịch Viện Wistar. "Tuy nhiên, mức độ liên quan của glycosyl hóa bề mặt tế bào chủ đối với sự tồn tại của HIV vẫn chưa được khám phá, khiến nó trở thành 'vấn đề tối' trong hiểu biết của chúng tôi về thời gian tiềm ẩn của HIV. Lần đầu tiên, chúng tôi mô tả một dấu hiệu glycomic trên bề mặt tế bào có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của HIV . "

Các tế bào bị nhiễm liên tục có thể được chia thành hai nhóm: tế bào mà vi rút hoàn toàn im lặng và không sản xuất bất kỳ RNA nào (tức là ổ chứa HIV im lặng); và các tế bào nơi virus tạo ra lượng RNA thấp (tức là nơi chứa HIV đang hoạt động). Nhắm mục tiêu và loại bỏ cả hai loại ổ chứa là trọng tâm của nhiệm vụ chữa khỏi HIV. Một thách thức chính trong nhiệm vụ này là chúng tôi không có hiểu biết rõ ràng về việc hai loại tế bào bị nhiễm này khác nhau như thế nào và với các tế bào không bị nhiễm HIV. Do đó, việc xác định các điểm đánh dấu có thể phân biệt các ô này với nhau là rất quan trọng.

Đối với các nghiên cứu của mình, Abdel-Mohsen và các đồng nghiệp đã sử dụng một mô hình tế bào sơ cấp về thời gian tiềm ẩn của HIV để mô tả các đường nét bề mặt tế bào của các tế bào nhiễm HIV. Họ đã xác nhận kết quả của họ trong các tế bào CD4 được phân lập trực tiếp từ các cá nhân nhiễm HIV trên ART.


Họ đã xác định một quá trình gọi là fucosylation là đặc điểm của các tế bào T bị nhiễm liên tục, trong đó bộ gen của virus đang được phiên mã tích cực. Fucosyl hóa là sự gắn một phân tử đường gọi là fucose vào các protein hiện diện trên bề mặt tế bào và rất quan trọng cho sự hoạt hóa tế bào T.

Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng sự biểu hiện của một kháng nguyên cụ thể được fucosyl hóa gọi là Sialyl-LewisX (SLeX) xác định quá trình phiên mã dai dẳng của HIV in vivo và các tế bào T CD4 sơ cấp có mức SLeX cao có mức độ cao hơn của con đường tế bào T và các protein được biết đến để thúc đẩy quá trình phiên mã HIV trong ART. Các kiểu glycosyl hóa như vậy không được tìm thấy trên các tế bào nhiễm HIV, trong đó vi rút không hoạt động phiên mã, cung cấp một đặc điểm phân biệt giữa hai ngăn tế bào này. Điều thú vị là các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng chính HIV thúc đẩy những thay đổi glycomic bề mặt tế bào này.

Quan trọng là, có mức SLeX cao là đặc điểm của một số tế bào ung thư cho phép chúng di căn (lây lan đến các vị trí khác trong cơ thể). Thật vậy, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các tế bào nhiễm HIV có hàm lượng SLeX cao được làm giàu bằng các con đường phân tử liên quan đến buôn bán giữa máu và mô. Các mức độ buôn bán khác nhau này có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại của HIV trong các mô, những nơi chính mà HIV ẩn náu trong quá trình điều trị ARV.

Dựa trên những phát hiện này, vai trò của fucosylation đối với sự tồn tại của HIV cần phải có các nghiên cứu sâu hơn để xác định cách nó góp phần vào sự tồn tại của HIV và cách nó có thể được sử dụng để nhắm vào các ổ chứa HIV trong máu và mô.

Nguồn : Viện Wistar
- Thuocbietduoc.com.vn cung cấp thông tin về hơn 30.000 loại thuốc theo toa, thuốc không kê đơn. - Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn cho mục đích tham khảo, tra cứu và không dành cho tư vấn y tế, chẩn đoán hoặc điều trị. - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
Thông tin Thuốc và Biệt Dược
- Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn
- Contact: VBCmedia, Jsc. - No 34, Louis Metropolis, Hanoi - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn