Dược phẩm Thứ sáu, ngày 8/11/2019

Nhóm thuốc kháng sinh cephalosporin

Cephalosporin ức chế sự tổng hợp tế bào vi khuẩn. Các cephalosporin có khả năng acyl hóa các D – alanin transpeptidase, ức chế giai đoạn cuối của quá trình tổng hợp vách tế bào vi khuẩn ( giai đoạn tạo liên kết ngang giữa các peptidoglycan). Khi quá trình sinh tổng hợp vách tế bào bị ngừng lại vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
- Một số nhóm kháng sinh thông dụng và cơ chế tác động của thuốc kháng sinh
Cephalosporin là kháng sinh phổ rộng nhóm beta - lactam. Thuốc kháng sinh Cephalosporin là loại kháng sinh được dùng phổ biến hiện nay, phòng tránh và điều trị được nhiều bệnh nhiễm trùng nhiễm khuẩn.

Các thế hệ kháng sinh cephalosporin

Dựa vào phổ kháng khuẩn chia cephalosporin thành 5 thế hệ. Các thế hệ trước tác dụng trên vi khuẩn gram dương mạnh hơn, nhưng trên gram âm thì yếu hơn các thế hệ sau và ngược lại.

Cephalosporin thế hệ 1: gồm các thuốc Cefazolin, Cephalexin, Cefadroxil, Cephalothin,… Cephalosporin thế hệ 1 tác dụng tốt trên cầu khuẩn gram (+) và trực khuẩn gram (+). Hầu hết các vi khuẩn kỵ khí trong khoang miệng nhạy cảm, nhưng với B. fragilis thuốc không có hiệu quả. Hoạt tính tốt trên các chủng Moraxella catarrhalis, E. coli, K. pneumoniae, và P. Mirabilis.

Cephalosporin thế hệ 1 được chỉ định điều trị nhiễm khuẩn hô hấp, mô mềm, da. Đặc biệt nhiễm khuẩn do tụ cầu không tác dụng với penicilin G. Nhiễm khuẩn do trực khuẩn gram (-) nhóm trực khuẩn ruột (viêm đường tiết niệu – sinh).
 
Một số tác dụng không mong muốn khi sử dụng Cephalosporin thế hệ 1 là phản ứng dị ứng: ngứa, ban da,… nặng hơn là sốc phản vệ nhưng ít gặp; thuốc gây độc với thận như viêm thận kẽ; rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy; bội nhiễm nấm ở miệng, âm đạo, viêm màng ruột kết giả mạo.
 
Cephalosporin thế hệ 2 

gồm các thuốc Cefoxitin, Cefaclor, Cefprozil, Cefotetan, Ceforanid… Cephalosporin thế hệ 2 có tác dụng mạnh hơn và rộng hơn thế hệ 1 trên trực khuẩn gram (-) ưa khí: trực khuẩn đường ruột, hemophilus influenzea (cefamandol, cefuroxim) và pseudomonase.

Cephalosporin thế hệ 2 được chỉ định trong nhiễm khuẩn do các vi khuẩn nhạy cảm gây bệnh ở máu, phổi, da, tiết niệu - sinh dục, tiêu hoá, hô hấp và màng não, mô mềm…

Tác dụng không mong muốn khi dùng Cephalosporin thế hệ 2 tương tự các Cephalosporin thế hệ 1. Ngoài ra, các cephalosporin có nhóm methylthiotrtrazol như cefotetan, cefmetazole… làm giảm prothrombin nên gây rối loạn đông máu. Thuốc gây hội chứng giống disulfiram, vì vậy tránh uống rượu và các thuốc chứa cồn trong thời gian dùng thuốc.


Cephalosporin thế hệ 3 

gồm các thuốc Cefotaxim,Cefpodoxim, Ceftibuten, Cefdinir, Cefditoren, Ceftizoxim, Ceftriaxon, Cefoperazon, Ceftazidim…Phổ tác dụng là cầu khuẩn gram (+) tác dụng kém thế hệ 1 và penicilin G. Tác dụng mạnh hơn các thế hệ trước trên các vi khuẩn gram (-) ưa khí: pseudomonase aeruginose, heamophilus influenzea, trực khuẩn đường ruột…, kể cả loại tiết ra beta-lactamase.
 
Cephalosporin thế hệ 3 được chỉ định trong điều trị các nhiễm khuẩn nặng do trực khuẩn gram (-) nhạy cảm gây bệnh ở máu, tiết niệu, phổi, hô hấp, màng não… đã kháng 2 thế hệ trước.
 
Tác dụng không mong muốn của Cephalosporin thế hệ 3 tương tự thế hệ 1 và 2.

Thuốc kháng sinh Cephalosporin thế hệ 4 

gồm các thuốc Cefepim, cefpirome. Phổ tác dụng trên các trực khuẩn gram (-) ưa khí. Vững bền với beta-lactamase so với thế hệ 3.
 
Cephalosporin thế hệ 4 được chỉ định điều trị nhiễm trực khuẩn gram (-) ưa khí đã kháng thế hệ trước gây bệnh ở các cơ quan.
 
Cephalosporin thế hệ 5: 

đây là một phân loại chưa chính thức. Các thuốc thế hệ này có đầy đủ những ưu điểm của thế hệ 4 về phổ kháng khuẩn, khả năng kháng nhiều Beta-lactamase (bao gồm cả ESBL), nhạy với vi khuẩn kị khí như thế hệ 2 và đặc biệt là tiêu diệt được MRSA, điều mà 4 thế hệ trước đó không làm được.

Ceftaroline chỉ được chỉ định cho nhiễm trùng da và cấu trúc da cấp. Ceftolozane chỉ được chỉ định cho nhiễm trùng ổ bụng phức tạp và nhiễm trùng tiết niệu phức tạp.
 
Với những trường hợp khác, ví dụ hay gặp là viêm phổi bệnh viện do MRSA ta không thể sử dụng hai thuốc này, khi đó sự lựa chọn đầu tay của bác sĩ lâm sàng là vancomycin, hoặc nếu MRSA đã kháng vancomycin (lúc này gọi là VRSA, tỉ lệ kháng hiện nay đang tăng cao) thì sẽ chuyển sang dùng linezolide, đại diện: Ceftaroline (Teflaro), Ceftolozane (Zerbaxa).
 
Tác dụng phụ của kháng sinh Cephalosporin

Các tác dụng phụ hay gặp (> 1%): đau và viêm tại chỗ tiêm, buồn nôn, phát ban, rối loạn điện giải.
 
Các tác dụng phụ ít gặp (0.1-1%): nôn mửa, nhức đầu, chóng mặt, nhiễm nấm candida miệng và âm đạo, bội nhiễm, Cefoperazone và Moxalactam độc với thận và hệ tạo máu.
 
Cephalosporin cũng có thể gây sốc phản vệ hoặc dị ứng nặng do chúng gắn với protein huyết thanh tạo thành kháng nguyên, kháng nguyên kích hoạt hệ thống miễn dịch gây ra các phản ứng dị ứng.

Nguồn SYT HN
Thuoc biet duoc | Thuốc biệt dược | Thuốc | Thuoc | Nhà thuốc | Phòng khám | Bệnh viện | Công ty dược phẩm
- Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn chỉ mang tính chất tham khảo - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
"Thông tin Thuốc và Biệt Dược" - Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn