Dược phẩm Chủ nhật, ngày 28/4/2019

Các thuốc điều trị rối loạn mỡ máu

Trong máu có chứa ba loại lipit chính: lipoprotein mật độ cao (HDL), lipoprotein mật độ thấp (LDL) và chất béo trung tính. Rối loạn lipid máu có nghĩa là mức LDL hoặc triglyceride cao hơn mức bình thường hoặc mức HDL quá thấp.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Cholesterol LDL được coi là loại cholesterol xấu. Nó có thể tích tụ và hình thành các khối hoặc mảng bám trên thành động mạch, gây ra cơn đau tim, đột quỵ.

Các loại rối loạn lipid máu

Rối loạn mỡ máu được chia thành các loại nguyên phát và thứ phát. 
Rối loạn mỡ máu nguyên phát là do di truyền. 
Rối loạn mỡ máu thứ phát là một tình trạng mắc phải, phát triển từ các nguyên nhân khác, chẳng hạn như béo phì hoặc tiểu đường.

Rối loạn lipid máu nguyên phát:

- Tăng lipid máu di truyền: Đây là nguyên nhân di truyền phổ biến nhất của cả cholesterol LDL cao và triglyceride cao. Nếu bạn bị tăng lipid di truyền, bạn có thể phát triển những vấn đề này ở tuổi thiếu niên hoặc 20 tuổi. Bạn cũng có nguy cơ cao mắc bệnh động mạch vành sớm, có thể dẫn đến đau tim.  
- Hyperapobetiprotein di truyền: Nồng độ apolipoprotein B cao, một loại protein là một phần của cholesterol LDL.

Rối loạn mỡ máu thứ phát

Do các yếu tố lối sống hoặc điều kiện y tế can thiệp vào nồng độ lipid máu theo thời gian. Nguyên nhân phổ biến của rối loạn lipid máu thứ phát bao gồm: 
- Béo phì, đặc biệt là thừa cân vùng bụng.
- Bệnh tiểu đường, hội chứng chuyển hóa, suy giáp, phình động mạch chủ bụng, nhiễm trùng nặng, hội chứng Cushing
- Nghiện rượu
- Hội chứng đa nang buồng trứng
- Ăn quá nhiều chất béo, đặc biệt là chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa

Các triệu chứng của rối loạn lipit máu

Giống như huyết áp cao, rối loạn mỡ máu không có triệu chứng rõ ràng, thường chỉ được phát hiện trong một xét nghiệm máu thông thường.

Tuy nhiên, rối loạn lipid máu có thể dẫn đến bệnh tim mạch, có thể là triệu chứng. Nồng độ cholesterol LDL cao có liên quan đến bệnh động mạch vành (CAD), gây tắc nghẽn trong động mạch tim và bệnh động mạch ngoại biên (PAD), gây tắc nghẽn động mạch chân. CAD có thể dẫn đến đau ngực và cuối cùng là đau tim. Triệu chứng chính của PAD là đau chân khi đi bộ.


Thuốc điều trị rối loạn mỡ máu

Điều trị rối loạn lipid máu là phòng ngừa bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch (ASCVD), bao gồm hội chứng mạch vành cấp tính, đột quỵ, cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc bệnh động mạch ngoại biên được cho là do xơ vữa động mạch. Điều trị được chỉ định cho tất cả bệnh nhân mắc ASCVD (phòng ngừa thứ phát) và đối với một số bệnh nhân không có (phòng ngừa tiên phát).

Nhóm thuốc statin

Thuốc thường được sử dụng nhất để điều trị rối loạn lipid máu là statin. Statin giúp giảm mức LDL bằng cách can thiệp vào việc sản xuất cholesterol trong gan.  Statin làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do tim mạch. Statin ức chế hydroxymethylglutaryl CoA reductase, một enzyme chủ chốt trong tổng hợp cholesterol, dẫn đến điều chỉnh tăng các thụ thể LDL và tăng độ thanh thải LDL. Chúng làm giảm cholesterol LDL tới 60% và tạo ra sự gia tăng nhỏ về HDL và giảm khiêm tốn về TG. Statin cũng xuất hiện để giảm viêm trong động mạch, viêm toàn thân hoặc cả hai bằng cách kích thích sản xuất oxit nitric nội mô và có thể có tác dụng có lợi khác. 

Thuốc chia làm 3 thế hệ:

Thế hệ 1. là những thuốc do sự lên men hoặc bán tổng hợp: Lovastatin, Simvastatin, Pravastatin

Thế hệ 2. là những thuốc do tổng hợp racemic: Fluvastatin

Thế hệ 3. là những thuốc do tổng hợp đối quang; Cerivastatin (hiện nay ngưng lưu hành do tác dụng phụ trên cơ), Atovastatin, Rosuvastatin.

Nhóm fibrate

Giúp làm giảm TG do kích thích PPAR alpha làm tăng oxy hóa acid béo, tăng tổng hợp enzym LPL, làm tăng thanh thải các lipoprotein giàu TG, ức chế tổng hợp apoC-III ở gan, tăng thanh thải VLDL. Các fibrat cũng làm tăng HDL do thúc đẩy trình diện apoA-I và apoA-II.

Các thuốc trong nhóm này bao gồm: Gemfibrozil, Clofibrat, Fenofibrat.

Tác dụng không mong muốn có thê gặp: rối loạn tiêu hóa như đầy hơi, trướng bụng, buồn nôn, giảm nhẹ chức năng gan, tăng men gan, sỏi mật, tăng men cơ, phát ban. Tác dụng phụ thường xảy ra khi dùng liều cao, hoặc cơ địa người già, hoặc có bệnh lý thận, gan trước.

Nhóm acid Nicotinic (Niacin, vitamin PP)

Các thuốc trong nhóm này tác dụng giảm TG do ức chế phân hủy từ tổ chức mỡ và giảm tổng hợp TG ở gan, ức chế tổng hợp và ester hóa acid béo tại gan, tăng thoái biến apo B, giảm VLDL, giảm LDL, và tăng HDL (do giảm thanh thải apoA-I).

Các biệt dược  Niacor, Niaspan, Slo-niacin. 

Tác dụng không mong muốn bao gồm: đỏ phừng mặt, ngứa, các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như đầy hơi, trướng bụng, buồn nôn, giảm nhẹ chức năng gan, tăng men gan, sỏi mật, tăng men cơ, phát ban, tăng đề kháng insulin. 

Nhóm Resin (Bile acid sequestrants)

Resin trao đổi ion Cl- với acid mật giúp tăng tổng hợp acid mật từ cholesterol, làm tăng bài tiết mật và giảm cholesterol ở gan, kích thích tổng hợp thụ thể LDL-cholesterol, tăng thải LDL-cholesterol.

Các thuốc thuộc nhóm: Cholestyramin, Colestipol, Colesevelam
Thuoc biet duoc | Thuốc biệt dược | Thuốc | Thuoc | Nhà thuốc | Phòng khám | Bệnh viện | Công ty dược phẩm
- Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn chỉ mang tính chất tham khảo - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
"Thông tin Thuốc và Biệt Dược" - Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn