Gửi thông tin thuốc

Imiquimod

Nhóm thuốc:Thuốc điều trị bệnh da liễu
Thuốc biệt dược mới :Aldara, Imiquad, You Care Cream 5%
Dạng thuốc :Kem bôi da

Thành phần :

Imiquimod
Imiquimod

Chỉ định :

Điều trị cho bệnh nhân người lớn có mụn cóc ở bên ngoài bộ phận sinh dục, và quanh hậu môn, bệnh sùi mào gà.

Liều lượng - cách dùng:

Thuốc được bào chế dạng thuốc kem bôi da nên bệnh nhân sử dụng thuốc bằng cách bôi trực tiếp lên vùng bị mụn cóc.

Bệnh nhân nên thoa thuốc trước khi đi ngủ để thuốc lưu trên da khoảng 6 – 10 giờ. Bệnh nhân cần làm sạch vùng da bị tổn thương trước khi sử dụng thuốc.

Sau đó lấy thuốc trong gói kem (gói kem đủ dùng cho 1 lần với diện tích mụn cóc ≤ 20 cm2) rồi bôi một lớp mỏng lên diện tích mụn cóc và xoa đến khi không còn nhìn thấy kem nữa.

Sau khi thoa xong, rửa sạch tay và để vùng da đó khô thoáng, không được bịt vùng đã bôi thuốc.

Bệnh nhân bôi 3 lần/tuần, cần điều trị duy trì đến khi hết mụn cóc bên ngoài bộ phận sinh dục và quanh hậu môn hoặc dùng tối đa 16 tuần.

Chống chỉ định :

Các bệnh nhân đã được biết là bị phản ứng quá mẫn với imiquimod hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.

Tác dụng phụ

Tác dụng không mong muốn có thể gặp phải khi sử dụng thuốc: Trầy xước, bong tróc da, nổi ban đỏ ở chỗ bôi và xung quanh vùng bôi thuốc. Màu sắc da thay đổi. Nhức đầu, đau cơ. Sốt, ỉa chảy, mệt mỏi. Các triệu chứng giống cúm.

Nói chung imiquimod khi dùng tại chỗ được dung nạp tốt. Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất của thuốc là các phản ứng tại chỗ từ nhẹ đến vừa. Các phản ứng nặng cân phải ngừng dùng thuốc chiếm khoảng 1-4% số bệnh nhân. Cho đến nay chưa có báo cáo về các phản ứng toàn thân nghiêm trọng khi dùng tại chỗ imiquimod.

Tác dụng tại chỗ và trên da:
Các phản ứng không mong muốn tại chỗ bao gồm ban đỏ, trầy sướt, bong da, và phù nề thường xảy ra tại chỗ bôi thuốc và/hoặc vùng xung quanh. Những phản ứng này thường từ nhẹ đến vừa, tuy vậy, cũng có các báo cáo phản ứng nghiêm trọng tại chỗ. Những phản ứng tại chỗ xảy ra nhiều hơn, và mạnh hơn nếu bôi thuốc hàng ngày thay vì dùng 3 lần trong tuần như khuyến cáo. Các phản ứng tại chỗ được báo cáo nhiều hơn 1% số bệnh nhân khi dùng imiquimod tại chỗ gồm: ngứa, bong, đau, dễ tổn thương, đau nhức da, nhạy cảm, gây nhức nhối, phát ban và da nhợt nhạt hoặc sắc tố da tại chỗ đậm lên. Những thay đổi màu đa (nhạt đi, đậm lên) có thể tồn tại lâu đài trên một số bệnh nhân. Đã có các báo cáo về các phản ứng trên da như ban đỏ, trầy sướt, chai, loét, phù nề, chảy máu, bỏng, ngứa, đau, dễ tổn thương và nhiễm nấm da vùng háng ở vùng xa nơi bôi thuốc trên một số bệnh nhân dùng imiquimod.

Tác dụng toàn thân:
Các phản ứng toàn thân như đau đầu, các triệu chứng giống như cúm, đau cơ, yêu mệt, sốt, ỉa chảy, và nhiễm nấm đã được báo cáo trong số các bệnh nhân dùng imiquimod tại chỗ.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Thận trọng lúc dùng :

Bệnh nhân không nên giao hợp khi thuốc vẫn còn trên da.

Bệnh nhân không nên dùng lượng kem quá thừa.

Thận trọng khi sử dụng thuốc cho trẻ em dưới 12 tuổi.

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân không tự ý dừng thuốc mà phải tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị trước khi quyết định.

Imiquimod chưa được đánh giá để dùng điều trị đường niệu, trong âm đạo, cỗ tử cung, đại tràng hoặc bệnh HPV trong hậu môn.

Chưa có trải nghiệm lâm sàng điều trị cục bộ với imiquimod ngay sau khi điều trị với các thuốc bôi ngoài da khác, vì vậy, không điều trị cục bộ với imiquimod cho đến khi tổ chức sinh dục hoặc vùng quanh hậu môn lành lại từ bất cứ điều trị nào với thuốc hoặc phẫu thuật trước đó.

Mặc dầu các phản ứng không mong muốn của imiquimod trên da thường là nhẹ đến vừa nhưng cũng có thể xảy ra các phản ứng nặng.

Ngoài ra, khi dùng tại chỗ imiquimod có thể làm tăng nặng các bệnh viêm da. Để giảm thiểu các phản ứng tại chỗ trong lúc điều trị với imiquimod thì 6-10 giờ sau khi dùng mỗi liều thuốc phải rửa sạch điện tích được bôi thuốc bằng xà phòng nhẹ và nước.

Nếu xảy ra phản ứng nặng tại chỗ thì phải rửa sạch chỗ được bôi thuốc bằng xà phòng nhẹ và nước. Nếu cần thiết phải ngừng dùng thuốc trong nhiều ngày cho đến khi phản ứng giảm nhẹ mới dùng lại. Mặc quần áo bằng vải dễ thấm (vải bông, đồ lót bông) để tránh các phản ứng trên da.

Những cá thể suy giảm miễn dịch, kể cả những người nhiễm HIV có thể đáp ứng ít hơn với điều trị mụn cóc bộ phận sinh dục và vùng quanh hậu môn do HPV so với những cá thể có khả năng miễn dịch và bệnh có thể tái phát nhiều hơn sau điều trị. Ngoài ra, tần số sinh thiết để khẳng định chẩn đoán mụn cóc do HPV có thể đòi hỏi nhiều hơn đối với các cá thể có suy giảm miễn dịch, vì ở những cá thể này ung thư biểu mô có thể xảy ra nhiều hơn sinh ra tế bào vẩy hoặc giống với mụn cóc do HPV gây ra.

Nếu có các mụn cóc mới do HPV phát triển trong khi hoặc sau khi điều trị với thuốc thì không dùng imiquimod để điều trị cục bộ nữa và cũng thông báo cho bệnh nhân biết.

Chưa biết tác động của điều trị imiquimod lên sự di chuyển của HPV và vì thuốc kem có thể làm hỏng bao cao su hoặc màng ngăn làm mất tác dụng ngăn chặn nên cần lưu ý bệnh nhân không tin vào các dụng cụ này để ngăn chặn bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc có thai trong khi điều trị cục bộ với imiquimod. Cần cảnh báo bệnh nhân tránh quan hệ tình dục (cơ quan sinh dục, hậu môn, miệng) trong khi imiqguimod còn trên da.

Cũng cần thông báo cho bệnh nhân biết có những biến đổi màu đa xây ra tại chỗ bôi thuốc và đôi khi những thay đổi này tồn tại lâu đài.

Tính chất gây ung thư, gây đột biến tác động lên khả năng sinh sản:

Imiquimod không biểu lộ tác dụng gây đột biến trong nhiều thí nghiệm in vitro và in vivo bao gồm cả phép thử Ames và thử u lympho bào trên chuột, thử sự khác thường nhiễm sắc thể buồng trứng chuột đồng Trung quốc (CHO = Chinese hamster ovary), thử sự khác thường nhiễm sắc thể tế bào bạch huyết người, thử sự biến đổi tế bào phôi chuột đồng Syn (SHE =Syrian Hamster Embryo), phép thử gen di truyền tế bào tủy xương của chuột cống và chuột đồng Trung quốc, và thử liều gây chết nhiều chuột, Chưa có đữ liệu về tính chất gây ung thư của imiquimod.

Các nghiên cứu trên chuột cống cho uống liều imiquimod gấp 8 lần liều khuyến cáo dùng cho người (tính theo mg/m2) qua ghép đôi, mang thai, sinh đẻ và cho bú đã có những bằng chứng biểu lộ khả năng sinh sản bị suy yếu.

Tác động của Imiquad lên phụ nữ có thai và cho con bú

Thận trọng khi sử dụng cho phụ nữ có thai và đang cho con bú, chỉ dùng thuốc khi thật sự cần thiết, tốt nhất bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi quyết định sử dụng thuốc Imiquad Imiquimod Cream 5% W/w.

Mang thai loại B:
Không có bằng chứng về tính chất gây quái thai khi cho chuột cống và thỏ uống imiquimod. Cho chuột cống mẹ uống liều độc imiquimod tương đương 28 lần liều dùng cho người (tính theo mg/m2) đã cho thấy trọng lượng bị giảm đi, sự hóa xương bị chậm lại. Không có tác dụng không mong muốn được chứng minh trên con của chuột cống khi mang thai được điều trị với liều imiquimod gấp 8 lần liều thông thường dùng cho người. Không có các nghiên cứu thích hợp và có kiểm soát việc dùng imiquimod cho phụ nữ mang thai. Do vậy, imiquimod không dùng cho phụ nữ mang thai.

Thời kỳ cho con bú:
Không biết liệu khi ding imiquimod bên ngoài thuốc có đi vào sữa mẹ không, cho nên không dùng imiquimod cho phụ nữ đang cho con bú.

Tương tác thuốc :

Bệnh nhân nên liệt kê các thuốc, thảo dược, các viên uống hỗ trợ, vitamin và thực phẩm chức năng đang sử dụng để bác sĩ có thể biết và tư vấn chính xác tránh tương tác giữa các thuốc với nhau gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người bệnh. Đồng thời tránh dùng cùng các mỹ phẩm hoặc thuốc bôi ngoài da khác.

Dược lực :

Cơ chế tác động chính xác của imiquimod trong điều trị mụn cóc bên ngoài gây ra bởi siêu vi papilloma người (HPV) chưa được giải thích, nhưng có thể do có liên quan đến sự điều chỉnh miễn dịch của thuốc. Điều trị bằng Imiquad kích thích tạo ra RNA (acid ribonueleie, mRNA= messenger RNA) sứ giả chủ mã hóa đối với các tác nhân điều chỉnh miễn dịch (cytokin) gồm cả interferon alpha (IFN-a) tại chỗ điều trị và làm giảm đáng kể DNA của HPV và phần lớn RNA protein capsit (L1) của HPV. In vitro imiquimod không có tác dụng kháng vi-rút trực tiếp, tuy vậy, thuốc lại biểu lộ tác dụng kháng vi-rut và kháng u in vivo. Imiquimod kich thích sản xuất ra các loại tác nhân điều chỉnh miễn dịch khác nhau và hình như có thể tăng cường hoạt tính chống vi-rut thông qua sự phân hủy tế bào. Thuốc là chất xúc tiến nhanh và tiềm năng tạo ra IFN-α, interleukin-1 alpha và beta (IL-lα & IL-β), interleukin-6 (IL-6), interleukin-8 (IL-8), yếu tố hoại tử u alpha (TNF- α), yếu tố kích thích nhóm đại thực bào hạt (CM-CSEF), yếu tố kích thích nhóm tế bào hạt và protein-1 α đại thực bào gây viêm.

Cơ chế tác dụng: Imiquimod là một tác nhân điều biến miễn dịch, kích thích đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch mắc phải thông qua cảm ứng interferon α (IFN-α) và tăng sinh các đại thực bào, bạch cầu đơn nhân, tế bào lympho B, đặc biệt là tế bào tua gai. Imiquimod hoạt hóa tế bào miễn dịch bằng cách tác động lên TLR7 và TLR8 sau đó hoạt hóa yếu tố NF-κB (nuclear factor-kappa B) và cảm ứng các cytokin, chemokin của quá trình viêm và các trung gian hóa học khác như IFN-α, yếu tố gây hoại tử khối u (TNFα), interleukin IL -2, IL – 6, IL – 8, IL – 12. Imiquimod không có hoạt tính kháng virus trên in-vitro. Hoạt tính kháng virus gián tiếp thông qua những cytokin và hoạt hóa hệ thống miễn dịch. Không những tăng cường kích thích các tế bào tua gai sản xuất cytokin của quá trình viêm, imiquimod còn tăng biểu hiện của dấu ấn CCR7 giúp tế bào tua gai di chuyển vào trong các mạch máu và hạch bạch huyết, cải thiện khả năng sống sót của các tế bào tua. Một vai trò quan trọng khác của imiquimod là hỗ trợ cho sự trưởng thành của tế bào tua gai. Tuy nhiên, mức độ di chuyển đến da vẫn chưa được xác định. Imiquimod cũng kích thích sự tăng sinh của tế bào lympho B in-vitro

Dược động học :

Chỉ có một lượng tối thiểu thuốc được hấp thu vào toàn thân sau khi dùng tại chỗ. Sau khi cho người lớn khỏe mạnh dùng một liều 5mg imiquimod được đánh dấu bằng chất phóng xạ dưới dạng kem dùng tại chỗ, trong huyết tương không tìm thấy chất phóng xạ (giới hạn phát hiện dưới là 1 ng/ml) và ít hơn 0,9% chất đánh dấu được loại ra qua nước tiểu và phân.
Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ
Hỏi đáp
Thuốc biệt dược

Aldara

SĐK: VN1-750-12
Imiquimod

Imiquad

Imiquad

SĐK: VN-19965-16
Imiquimod 5% (kl/kl)

You Care Cream 5%

SĐK: VN-22748-21
Imiquimod 5%

- Thuocbietduoc.com.vn cung cấp thông tin về hơn 30.000 loại thuốc theo toa, thuốc không kê đơn. - Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn cho mục đích tham khảo, tra cứu và không dành cho tư vấn y tế, chẩn đoán hoặc điều trị. - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
Thông tin Thuốc và Biệt Dược
- Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn
- Email: contact@thuocbietduoc.com.vn