Gửi thông tin thuốc

Epoetin beta

Nhóm thuốc:Thuốc tác dụng đối với máu
Thuốc biệt dược mới :Mircera, Mircera, Neorecormon, Recormon, Recormon, Recormon
Dạng thuốc :Dung dịch tiêm Epoetin beta 2.000, 4.000 IU

Thành phần :

Epoetin beta
Epoetin beta

Chỉ định :

- Điều trị thiếu máu do suy thận mãn (thiếu máu do thận) ở những bệnh nhân thẩm phân máu.
- Điều trị thiếu máu do thận có biểu hiện triệu chứng ở bệnh nhân chưa được thẩm phân máu.
- Phòng thiếu máu ở trẻ sinh non có cân nặng lúc sinh từ 750g tới 1500g và tuổi thai dưới 34 tuần.
- Điều trị thiếu máu có biểu hiện triệu chứng ở người trưởng thành bị u ác tính không phải ở tủy đang được điều trị bằng hóa trị liệu.
- Tăng lượng máu tự thân của người bệnh đang trong thời kỳ chuẩn bị cho máu. Việc dùng thuốc trong chỉ định này cần được cân nhắc vì đã có báo cáo về khả năng tăng nguy cơ huyết khối gây tắc mạch. Việc điều trị chỉ áp dụng đối với bệnh nhân thiếu máu mức độ trung bình (Hb 10-13g/dl [6.2-8.1mmol/L], không thiếu sắt) nếu quá trình bảo quản máu không được thực hiện hoặc không đủ trong khi cuộc đại phẫu theo chương trình lại đòi hỏi một lượng máu lớn (từ 4 đơn vị máu trở lên đối với nữ và 5 đơn vị máu trở lên đối với nam).

• Điều trị để tăng lượng máu tự thân

Dung dịch được tiêm tĩnh mạch vào khoảng 2 phút hoặc tiêm dưới da.
Dùng NeoRecormon 2 lần/tuần trong 4 tuần. Trong trường hợp hematocrit của bệnh nhân đủ để cho máu, ví dụ hematocrit ≥ 33%,Thuốcn được dùng vào cuối lúc cho máu. Trong suốt thời gian điều trị, hematocrit không được vượt quá 48%.
Liều dùng cần được xác định bởi kíp mổ cho từng bệnh nhân dựa trên lượng máu dự tính sẽ lấy ra trước mổ và lượng hồng cầu dự trữ nội sinh.
1) Lượng máu cần phải rút ra phụ thuộc vào lượng máu dự tính sẽ mất hoặc sẽ sử dụng cũng như quá trình bảo quản máu và thể trạng bệnh nhân. Lượng máu này phải được tính đủ để đảm bảo tránh truyền máu dị thân. Lượng máu cần phải rút ra được tính bằng đơn vị mà 1 đơn vị tính bằng nomogram tương đương với 180ml hồng cầu.
2) Khả năng cho máu chủ yếu phụ thuộc vào thể tích máu của bệnh nhân cũng như hematocrit trước dùng thuốc. Cả hai biến số này quyết định lượng hồng cầu dự trữ nội sinh và có thể được tính theo công thức sau:
Lượng hồng cầu dự trữ nội sinh = thể tích máu [ml] x (Hematocrit - 33) : 100
Phụ nữ: Thể tích máu [ml] = 41[ml/kg] x trọng lượng cơ thể [kg] + 1200 [ml]
Đàn ông: Thể tích máu [ml] = 44[ml/kg] x trọng lượng cơ thể[kg] + 1600 [ml]
Trọng lượng cơ thể ≥ 45kg
Liều dùng mỗi lần được xác định như trên được dùng 2 lần/tuần và trong 4 tuần. Liều tối đa không được vượt quá 1600IU/kg trọng lượng cơ thể/tuần khi tiêm tĩnh mạch hoặc 1200IU/kg trọng lượng cơ thể/tuần khi tiêm dưới da.

Hướng dẫn sử dụng, hủy bỏ thuốc

Đầu tiên phải rửa sạch tay!

1) Lấy bơm tiêm ra khỏi vỏ và kiểm tra xem dung dịch có trong, không màu và đặc biệt là không thấy có cặn. Lấy nắp ra khỏi bơm tiêm.

2) Lấy kim tiêm ra khỏi vỏ, cắm vào bơm tiêm và gỡ nắp kim tiêm.

3) Đuổi khí ra khỏi bơm tiêm và kim tiêm bằng cách giữ bơm tiêm thẳng đứng và đẩy nhẹ nhàng pit-tông lên phía trên. Đẩy pit-tông cho đến khi đạt được lượng thuốc như liều đã kê trong bơm tiêm.

4) Lau sạch da nơi tiêm bằng bông tẩm cồn. Tạo nếp gấp da bằng cách véo da giữa ngón cái và ngón trỏ. Giữ bơm tiêm ở gần kim tiêm, và đâm nhanh kim vào nếp gấp da một cách dứt khoát. Tiêm dung dịch thuốc. Rút kim tiêm ra nhanh và đè lên chỗ tiêm bằng một miếng gạc khô, vô trùng.

Liều lượng - cách dùng:

• Điều trị bệnh nhân thiếu máu do suy thận mãn

Dung dịch có thể tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch. Trong trường hợp tiêm tĩnh mạch, cần tiêm dung dịch trong vòng 2 phút, ví dụ ở bệnh nhân lọc thận, nên tiêm qua cầu nối động tĩnh mạch khi lọc thận xong.

Ở bệnh nhân không lọc thận, đường tiêm dưới da luôn nên được ưu tiên để tránh làm vỡ tĩnh mạch ngoại vi.

Mục đích của việc điều trị là để tăng hematocrit lên tới 30-35% với mức độ tăng hàng tuần đạt ít nhất là 0.5%. Không nên vượt quá giá trị 35%.

Trong trường hợp có tăng huyết áp hoặc bệnh lý trước đó về tim mạch, mạch não hoặc mạch ngoại vi, mức độ tăng hàng tuần hematocrit và mức hematocrit đích nên được xác định cụ thể cho từng bệnh nhân theo bệnh cảnh lâm sàng. Ở một vài bệnh nhân hematocrit tối ưu có thể dưới 30%.

Việc điều trị với thuốc được chia làm 2 giai đoạn.

* Giai đoạn chữa trị 

- Tiêm dưới da: Liều khởi đầu là 3 x 20 IU/kg trọng lượng cơ thể mỗi tuần. Cứ sau 4 tuần có thể tăng liều 3 x 20 IU/kg cho một tuần nếu hematocrit tăng chưa đủ (< 0,5% mỗi tuần). Liều mỗi tuần có thể được chia ra thành các liều dùng hàng ngày.
- Tiêm tĩnh mạch: Liều khởi đầu là 3 x 40 IU/kg trọng lượng cơ thể mỗi tuần. Sau 4 tuần có thể tăng liều tới 80 IU/kg - dùng 3 lần một tuần - và nếu cần thiết tiếp tục tăng thêm 20 IU/kg ba lần một tuần sau mỗi tháng.
Đối với cả hai đường dùng, liều tối đa không được vượt quá 720 IU/kg mỗi tuần.

* Giai đoạn duy trì 

Để giữ hematocrit trong khoảng 30-35%, đầu tiên giảm liều thuốc xuống còn một nửa so với liều đang dùng. Sau đó, cứ mỗi một tuần hoặc hai tuần lại chỉnh liều tùy theo từng bệnh nhân (liều duy trì).

Việc điều trị với th thông thườnuốcg kéo dài. Tuy nhiên, nếu cần thiết có thể dừng đột ngột bất kỳ lúc nào. Những dữ liệu về liều điều trị một lần mỗi tuần đã được thiết lập dựa trên những nghiên cứu lâm sàng có thời gian điều trị 24 tuần.

• Phòng thiếu máu ở trẻ sinh non

Thuốc được dùng bằng đường tiêm dưới da với liều 3 x 250 IU/kg trọng lượng cơ thể mỗi tuần.

Việc điều trị với thuốc nên bắt đầu càng sớm càng tốt, tốt nhất là vào ngày thứ ba sau khi sinh. Những trẻ sinh non đã được truyền máu khi bắt đầu điều trị bằng thuốc có thể không đạt được hiệu quả điều trị tốt bằng những trẻ không được truyền máu.
Việc điều trị cần kéo dài 6 tuần.

• Điều trị thiếu máu có biểu hiện triệu chứng cho những bệnh nhân bị ung thư

Dung dịch dùng để tiêm dưới da; liều hàng tuần có thể tiêm một lần hoặc chia làm 3 tới 7 liều đơn.
Liều khởi đầu được khuyến cáo là 30.000 IU/tuần (tương đương với khoảng 450 IU/kg trọng lượng cơ thể mỗi tuần, dựa trên một bệnh nhân có trọng lượng trung bình).

Thuốc được chỉ định nếu như trị số hemoglobin ≤ 11g/dl (6,83 mmol/l). Mức hemoglobin không nên vượt quá 13g/dl (8,07 mmol/l) (Xem mục Dược lực học).
Nếu sau 4 tuần điều trị, trị số hemoglobin tăng lên ít nhất 1g/dl (0,62 mmol/l), nên tiếp tục liều đang dùng cho bệnh nhân. Nếu trị số hemoglobin không tăng lên ít nhất 1g/dl (0,62 mmol/l), nên nghĩ đến việc tăng liều hàng tuần lên gấp đôi. Nếu sau 8 tuần điều trị, trị số hemoglobin không tăng lên ít nhất 1g/dl (0,62 mmol/l), khó có khả năng đáp ứng và nên ngừng điều trị.
Nên kéo dài điều trị cho tới 4 tuần sau khi kết thúc hóa trị liệu.
Liều tối đa không nên vượt quá 60.000IU mỗi tuần.
Một khi đã đạt được mục đích điều trị cho bệnh nhân, nên giảm liều từ 25% đến 50% để duy trì hemoglobin ở mức đã đạt được. Nếu cần thiết, cần phải giảm thêm liều để bảo đảm rằng trị số hemoglobin không vượt quá 13g/dl.
Nếu hemoglobin tăng trên 2g/dl (91,3 mmol/l) trong 4 tuần, nên giảm 25% đến 50% liều.

Chống chỉ định :

Quá mẫn với albumin hoặc sản phẩm từ tế bào động vật có vú. Tăng huyết áp không kiểm soát được.

Tác dụng phụ

- Hệ tim mạch
* Bệnh nhân thiếu máu do suy thận mãn:
Những tác dụng không mong muốn hay gặp nhất khi điều trị với Thuốc là tăng huyết áp hoặc bệnh huyết áp có từ trước bị nặng thêm, đặc biệt trong những trường hợp có tăng nhanh hematocrit. Các trường hợp tăng huyết áp này có thể điều trị bằng thuốc. Nếu huyết áp tăng mà không kiểm soát được bằng thuốc, nên tạm thời ngừng điều trị Thuốc.
Đặc biệt khi bắt đầu điều trị, cần theo dõi huyết áp thường xuyên, kể cả việc đo huyết áp giữa các lần lọc máu.
Các cơn tăng huyết áp có triệu chứng giống bệnh lý não (ví dụ đau đầu và lú lẫn, rối loạn giác quan vận động như rối loạn vận ngôn hoặc đi lảo đảo cho tới các cơn động kinh co cứng rung giật) có thể xảy ra, ngoài ra có thể gặp ở cả những bệnh nhân huyết áp bình thường hoặc thấp. Hiện tượng này cần được bác sĩ phát hiện ngay và chăm sóc y tế tích cực. Cần đặc biệt lưu ý khi có cơn đau nhói đầu kiểu migraine vì đây có thể là dấu hiệu báo trước.
* Bệnh nhân bị ung thư:
Đôi khi có thể có tăng huyết áp có thể điều trị bằng thuốc. Vì vậy cần theo dõi huyết áp đặc biệt trong giai đoạn đầu điều trị. Đau đầu thỉnh thoảng cũng có thể xảy ra.
- Máu
* Bệnh nhân thiếu máu do suy thận mãn:
Huyết khối cầu nối mạch máu có thể xảy ra, đặc biệt ở những bệnh nhân có xu hướng hạ huyết áp hoặc vị trí dò động tĩnh mạch xuất hiện các biến chứng (ví dụ hẹp, phình mạch) (xem phần Chú ý đề phòng). Trong phần lớn các trường hợp, người ta đã quan sát thấy có giảm lượng ferritin huyết thanh đồng thời với tăng hematocrit.
Vì vậy, việc bổ sung sắt bằng đường uống với liều 200 đến 300 mg Fe2+/ngày được khuyến cáo ở tất cả các bệnh nhân có trị số ferritin huyết thanh thấp dưới 100 mcg/l hoặc độ bão hòa transferin dưới 20%. Ngoài ra, trong một số ít trường hợp người ta cũng quan sát thấy nồng độ phosphate và kali huyết thanh tăng thoáng qua. Những thông số này nên được theo dõi một cách thường xuyên.
Trong một số trường hợp hiếm gặp, kháng thể trung hòa chống erythropoietin có hoặc không kèm theo hội chứng bất sản đơn thuần dòng hồng cầu (PRCA) đã xảy ra trong quá trình điều trị erythropoietin người tái tổ hợp (rhuEPO). Trong trường hợp chẩn đoán là bất sản đơn thuần dòng hồng cầu, không nên tiếp tục điều trị với erythropoietin và không nên chuyển bệnh nhân sang dùng thuốc tạo hồng cầu khác.
* Trẻ sinh non:
Trong đa số các trường hợp người ta quan sát thấy ferritin huyết thanh giảm. Vì thế, việc điều trị bằng sắt đường uống nên bắt đầu càng sớm càng tốt (muộn nhất là ngày thứ 14 sau khi sinh) với 2mg Fe2+/ngày. Liều lượng sắt có thể thay đổi theo nồng độ ferritin huyết thanh. Nếu ferritin huyết thanh dưới 100 g/L hoặc nếu có các dấu hiệu của sự thiếu hụt sắt, liều Fe2+ cần tăng lên tới 5-10mg Fe2+/ngày. Việc điều trị với sắt cần tiếp tục đến khi các dấu hiệu thiếu sắt biến mất.
* Bệnh nhân bị ung thư:
Ở một vài bệnh nhân thông số sắt huyết thanh giảm đã được ghi nhận. Do đó, cần bổ sung sắt đường uống 200-300mg Fe2+/ngày cho tất cả các bệnh nhân khi ferritin huyết thanh dưới 100 mcg/L hoặc độ bão hòa transferrin dưới 20%. Ở những bệnh nhân bị đa u tủy, u limphô non Hodgkin hoặc bệnh bạch cầu lympho mãn có độ bão hòa transferrin dưới 25%, cũng có tác giả sử dụng 100mg Fe3+/tuần tiêm tĩnh mạch.
Các nghiên cứu trên lâm sàng đã cho thấy tần số biến cố huyết khối tắc mạch tăng nhẹ ở những bệnh nhân ung thư được điều trị với Thuốc so với các nhóm chứng không được điều trị và nhóm được điều trị bằng placebo. Tỷ lệ xuất hiện biến cố này là 5,9% ở những bệnh nhân được điều trị với Thuốc và 4,2% ở nhóm chứng. Điều này không liên quan gì đến sự gia tăng số tử vong do huyết khối tắc mạch ở nhóm được điều trị Thuốc so với nhóm chứng.
* Bệnh nhân trong chương trình cho máu tự thân
Bệnh nhân trong chương trình cho máu tự thân có thể có tăng nhẹ hiện tượng tắc mạch do huyết khối. Tuy nhiên chưa rõ mối liên quan nhân quả với việc dùng Thuốc.
Vì có thiếu hụt tạm thời sắt, tất cả các bệnh nhân nên uống thêm 300mg Fe2+/ngày từ lúc bắt đầu điều trị với Thuốc cho tới khi giá trị ferritin trở về bình thường. Nếu như đã uống sắt thay thế mà vẫn có thiếu hụt sắt (lượng ferritin thấp hơn hoặc bằng 20 mcg/L hoặc lượng sắt bão hòa dưới 20%), nên cân nhắc bổ sung sắt qua đường tĩnh mạch.
- Các tác dụng không mong muốn khác
Các phản ứng da như phát ban, ngứa, mề đay hoặc phản ứng tại chỗ tiêm hiếm khi xảy ra. Phản ứng phản vệ đã được báo cáo trong một số trường hợp riêng lẻ. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu lâm sàng có kiểm chứng, không thấy có tăng tỉ lệ các phản ứng quá mẫn.
Trong một số các trường hợp riêng lẻ, đặc biệt lúc mới điều trị, hội chứng giả cúm như sốt, ớn lạnh, đau đầu, đau chân tay, mệt và/hoặc đau xương cũng đã được ghi nhận. Những phản ứng này nhẹ hoặc ở mức trung bình và giảm bớt sau vài giờ hoặc vài ngày.

Thận trọng lúc dùng :

Người có tiền sử động kinh, tăng trương lực cơ mà không kiểm soát được (chuột rút), có bệnh về máu (huyết khối, máu dễ đông, thiếu máu hồng cầu liềm, các hội chứng loạn sản tủy), người rối loạn chức năng gan, rối loạn chuyển hóa porphyrin...

Đối với người có thai, cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ (lợi ích thường trội hơn), do EPO không bài tiết vào sữa nên không có nguy cơ đối với trẻ đang bú (tuy vậy vẫn có tài liệu khuyên không nên dùng).

Do thuốc có nguy cơ tăng huyết áp nên cần thường xuyên theo dõi, nếu thấy nhức đầu có thể là dấu hiệu báo trước, nếu huyết áp không khống chế được thì nên ngừng thuốc, cũng do việc tăng huyết áp nên uống thuốc không vận hành máy, lái xe, làm việc trên cao...

Cần theo dõi tiểu cầu trong 8 tuần đầu dùng thuốc. Cần kiểm soát dự trữ sắt trong thời gian dùng thuốc vì hầu hết trường hợp đều xảy ra ferritin huyết thanh sẽ giảm, đồng thời với sự gia tăng số lượng hồng cầu, đối với bệnh nhân ung thư có nồng độ ferritin dưới 100ng/ml cần được uống 200 - 300mg sắt/ngày (trẻ em 100 - 200mg). Tác dụng bất lợi của thuốc tương đối nhẹ và thường phụ thuộc vào liều và cách dùng (tiêm tĩnh mạch hay gây ra tác dụng phụ hơn tiêm dưới da): có hội chứng giống "cảm cúm": nhức đầu, ớn lạnh, chóng mặt, đau xương, mỏi mệt (thường xuất hiện ở mũi tiêm đầu), tăng huyết áp, tai biến mạch, huyết khối, nổi mẩn, ngứa, chuột rút, kích ứng và đau (tiêm dưới da).

Tương tác thuốc :

Các thử nghiệm trên động vật cho thấy epoetin beta không làm tăng độc tính cho tủy của các thuốc kìm tế bào, ví dụ như etoposide, cisplatin, cyclophosphamide và fluorouracil.

Dược lực :

Thành phần amino acid và carbohydrat của Epoetin beta giống như erythropoietin được phân lập từ nước tiểu của bệnh nhân thiếu máu. Erythropoietin là một glycoprotein kích thích sự tạo thành hồng cầu từ các tiền thân trong khoang tế bào gốc. Chất này đóng vai trò một yếu tố kích thích sự phân bào và hormone biệt hóa.

Tác dụng sinh học của epoetin beta đã được chứng minh sau khi tiêm tĩnh mạch và tiêm dưới da ở những mẫu động vật khác nhau in vivo (chuột bình thường và chuột có tăng urê huyết, chuột bị đa hồng cầu và chó). Sau khi dùng epoetin beta, số lượng của hồng cầu, hemoglobin và hồng cầu lưới cũng như tốc độ gắn 59Fe đều tăng.
Người ta tìm thấy in vitro có sự tăng gắn 3H-thymidine với các tế bào dòng hồng cầu có nhân ở lách (tế bào lách chuột nuôi cấy) sau khi ủ với epoetin beta. Nghiên cứu mẫu nuôi cấy tế bào tủy xương ở người cho thấy epoetin beta kích thích tạo hồng cầu một cách chuyên biệt và không ảnh hưởng tới việc tạo bạch cầu. Không tìm thấy tác động độc tế bào của epoetin beta trên tế bào tủy xương hoặc tế bào da của người.
Người ta thấy rằng sau khi dùng một liều duy nhất epoetin beta không có ảnh hưởng tới hành vi hoặc vận động của chuột và chức năng tuần hoàn hoặc hô hấp ở chó.
Erythropoietin là yếu tố tăng trưởng, kích thích chủ yếu quá trình tạo hồng cầu. Những thụ thể của erythropoietin hiện diện trên bề mặt của nhiều tế bào ung thư. Chưa có đủ thông tin cho thấy liệu việc sử dụng epoetin có kịp gây ra những tác dụng không mong muốn lên sự tiến triển của khối u hoặc sự tồn tại không tiến triển của khối u hay không.

Dưới đây là hai nghiên cứu thăm dò tác động của epoetins lên sự tồn tại và/hoặc sự tiến triển của khối u với những mức hemoglobin cao hơn:

• Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược, 939 bệnh nhân bị ung thư vú đã được sử dụng epoetin alfa để duy trì hemoglobin trong giới hạn từ 12 đến 14g/dl. Sau 4 tháng, số tử vong có liên quan đến sự tiến triển của khối u trong nhóm phụ nữ được dùng epoetin alfa đã tăng cao hơn (6% so với 3%). Tỷ lệ tử vong xét chung cũng cao hơn đáng kể trong nhóm dùng epoetin alfa.
• Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược khác, 351 bệnh nhân bị ung thư vùng đầu - cổ đã được dùng epoetin beta để duy trì mức hemoglobin 14g/dl ở phụ nữ và 15g/dl ở đàn ông. Sự tồn tại không tiến triển di căn của khối u được ghi nhận là ngắn hơn nhiều ở những bệnh nhân được dùng epoetin beta. Tuy nhiên, rất khó đánh giá những kết quả từ nghiên cứu này do sự bất tương xứng trong nhóm điều trị, đặc biệt khi xét đến sự khu trú của khối u, tình trạng hút thuốc lá của bệnh nhân và sự không nhất quán của những đối tượng nghiên cứu.
Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cũng đã ghi nhận một xu hướng tồn tại có cải thiện của khối u, điều này gợi ý rằng epoetin không có tác dụng làm giảmsự tiến triển của khối u.
Một số trường hợp rất hiếm gặp xuất hiện kháng thể trung hòa chống erythropoietin có hoặc không có kèm hiện tượng bất sản đơn thuần dòng hồng cầu (PRCA) trong quá trình dùng liệu pháp rHuEPO.
Dược động học
Các nghiên cứu dược động học trên những người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân tăng ure huyết cho thấy thời gian bán hủy của epoetin beta sau khi tiêm tĩnh mạch là từ 4 đến 12 giờ và thể tích phân bố từ 1 đến 2 lần thể tích huyết thanh. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận ở động vật thí nghiệm trên chuột bình thường và chuột tăng urê huyết.
Sau khi tiêm dưới da epoetin beta ở bệnh nhân tăng urê huyết, sự hấp thu kéo dài đưa đến nồng độ huyết thanh ổn định, với nồng độ tối đa đạt được sau khoảng 12-28 giờ. Thời gian bán hủy dài hơn so với sau khi tiêm tĩnh mạch và trung bình từ 13 đến 28 giờ.
Sinh khả dụng của epoetin beta sau tiêm dưới da đạt khoảng 23 đến 42% so với tiêm tĩnh mạch.
An toàn tiền lâm sàng
* Độc tính cấp
Tiêm tĩnh mạch epoetin beta với liều đơn 6.000IU/kg thể trọng cho chó và với những liều 3; 30; 300; 3.000 hoặc 30.000IU/kg thể trọng cho chuột không phát hiện được bất kỳ tổn thương do độc tính nào.
* Độc tính mạn
Trong những nghiên cứu độc tính 3 tháng với liều dùng hàng ngày tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch lên đến 10.000 IU/kg thể trọng ở chuột, hoặc 3.000IU/kg thể trọng ở chó không ghi nhận được dấu hiệu độc tính nào, ngoại trừ có một sự thay đổi fibrin của tủy xương, xảy ra khi giá trị hematocrit vượt quá 80%. Một nghiên cứu thêm sau đó ở chó đã cho thấy rằng sự xơ hóa tủy xương sẽ không xảy ra nếu giá trị hematocrit được giữ ở mức dưới 60%. Vì vậy, sự xơ hóa tủy xương ghi nhận được ở những nghiên cứu trên động vật này không thích hợp với các tình trạng lâm sàng trên người.
* Tính sinh ung thư
Một nghiên cứu về tính sinh ung thư, sử dụng erythropoietin đồng dạng trên chuột đã không cho thấy bất kỳ dấu hiệu nào về sự tăng sinh hoặc khả năng sinh ung thư.
* Tính gây đột biến
Trong xét nghiệm Ames, xét nghiệm nhân sinh sản, xét nghiệm HGPRT in vitro hoặc xét nghiệm sai lệch cấu trúc nhiễm sắc thể trên mẫu cấy tế bào lympho người, Epoetin beta cho thấy không có khả năng gây độc cho gen.
* Độc tính lên sự sinh sản
Những nghiên cứu ở chuột và thỏ không cho thấy có bằng chứng nào liên quan đến độc tính cho phôi, cho bào thai hoặc tính gây quái thai. Không có sự thay đổi nào về khả năng sinh sản được ghi nhận. Một nghiên cứu độc tính chu sinh đã chứng minh rằng không có tác dụng có hại nào xảy ra cho con cái mang thai/cho con bú cũng như cho sự phát triển của bào thai và đứa con sau này.

Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ
Thuoc biet duoc | Thuốc biệt dược | Thuốc | Thuoc | Nhà thuốc | Phòng khám | Bệnh viện | Công ty dược phẩm
- Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn chỉ mang tính chất tham khảo - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
"Thông tin Thuốc và Biệt Dược" - Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn