Acnebye

Acnebye
Nhóm sản phẩm: Thực phẩm chức năng
Dạng bào chế:Viên nang cứng
Đóng gói:Hộp 3 vỉ x 10 viên

Thành phần:

Ngưu hoàng, Kim ngân hoa, Bồ công anh, Xuyên tâm liên, Cam thảo, Sơn đậu căn, Chi tử, Thổ phục linh, Sinh địa, Đại hoàng và các phụ gia.
Nhà sản xuất: Công ty TNHH Dược phẩm Hoa linh - VIỆT NAM Estore>
Nhà đăng ký: Estore>
Nhà phân phối: Estore>

Công dụng

Acnebye giúp thanh nhiệt, mát huyết, giải độc cho cơ thể. Hỗ trợ trong các trường hợp người nóng nhiệt, trứng cá tăng do nội tiết.

Sử dụng thích hợp cho những người:

Bị mụn trứng cá khi đến tuổi dậy thì (Đông y gọi là Thanh xuân đậu)

Bị mụn nhọt, mụn trứng cá do nóng trong, ăn đồ cay nóng, uống rượu bia, thức khuya, mất ngủ, mồ hôi dầu.

Liều lượng - Cách dùng

Cách dùng

Ngày uống 6 viên chia 2 lần. Đợt sử dụng 2 - 4 tuần hoặc dài hơn tùy vào tình trạng da mặt và toàn thân.

Khi sử dụng viên Acnebye new kết hợp với chế phẩm bôi ngoài da tác dụng tại chỗ sẽ tạo tác dụng hiệp đồng tăng hiệu quả điều trị mụn trứng cá.

Chú ý

Khi dùng sản phẩm: Kiêng ăn đồ cay nóng, thức khuya, dùng các chất kích thích...

Với trường hợp viêm da nặng nên đi khám bác sỹ da liễu để xác định nguyên nhân gây bệnh và có phương pháp điều trị thích hợp.

Không sử dụng sản phẩm nếu thấy các dấu hiệu bất thường về cảm quan như ẩm, mốc...

Không dùng cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người tỳ vị hư hàn.

Sản phẩm này là thực phẩm chức năng, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Thông tin thành phần Ngưu hoàng

Mô tả:
Ngưu hoàng thiên nhiên là sạn mật hay sỏi mật của con trâu có bệnh Buhalus hubalis L. hoặc con bò-Bos taurus var. domeslicus Gmelin có bệnh thuộc họ Trâu bò Bovidae.
Vị ngưu hoàng ở nước ta có nhưng chưa biết khai thác nên vẫn phải nhập của Trung Quốc, Từ tháng 8 năm 1961, đã phát hiện và giới thiệu trong lớp dược liệu 8/61 rằng một số trâu bò ở nước ta cũng có ngưu hoàng.

Trước đây, khi chế cao mật thấy những túi mật có sạn lại bỏ đi. Hiện nay rải rác đã có nơi thu thập ngưu hoàng.

Cách chế ngưu hoàng

Hiện nay vì mới phát hiện nên chưa có kinh nghiêm để phân biệt con trâu bò nào có ngưu hoàng: Những người mổ trâu bò ở Hà Nội nhận thấy trâu bò vùng Vĩnh Linh đưa ra thường hay có. Theo các tài liệu những con trâu bò già, gầy yếu, mắt lờ đờ, khi đi đầu hay quay nghiêng, đứng hoặc nằm thường hay thở khò khè như bị hen thường là trâu bò có ngưu hoàng.

Tốt nhất là khi mổ trâu bò, lấy túi mật thì nắn túi và ống mật hễ thấy có cục rắn cứng thì nên sớm rạch túi mật ra, lọc qua rây, lấy mật riêng và ngưu hoàng riêng. Nếu để lâu, dịch mật ngấm vào ngưu hoàng sẽ làm ngưu hoàng bị đen, phẩm chất kém,
Sau khi lấy ngưu hoàng chú ý dùng vải mềm hay gạc sạch gạt bỏ các màng nhầy dính xung quanh, dùng thông thảo hoặc bấc đèn đăng tâm thảo (xem vị này) hoặc bông bọc lại, ngoài cùng bọc một lớp vải thưa, buộc cẩn thận. Cho vào hộp kín trong có vôi cục chưa tôi hoặc gạo rang hay silicagien để hút ẩm. Chú ý hộp phải kín thì khả năng hút ẩm của vôi hay gạo rang mới thể hiện tốt. Nhất thiết không phơi nắng hay sấy lửa hoặc để ở chỗ có gió mạnh vì sức nóng ánh sáng mặt trời hoặc gió mạnh làm ngưu hoàng nứt vỡ. sẫm lại, phẩm chất sẽ kém. Mùa thu hoạch quanh năm.

Tuỳ theo trình độ kết sạn, ngưu hoàng to nhỏ không nhất định, lớn có thể bằng quả trứng gà, nhỏ bằng hòn cuội hoặc như viên sạn. Khi cái ngang trông thấy như gồm nhiều lớp dính chặt vào nhau có màu vàng nâu hoặc nâu đỏ. Cần gói kín, để trong lọ màu dưới đáy có gạo rang hoặc vôi cục. Ta nên chú ý khi khai thác vì nhu cầu trong nước hàng năm tuy chỉ chừng 20kg, nhưng trị giá tới 240.000 đ, vả lại ngay Trung Quốc là nơi ta vẫn nhập cảng vẫn phải nhập của châu Úc, Canada và Ấn Độ.

Thành phần hoá học

Trong ngưu hoàng có axit cholic, cholesterol, ergosterol, axit béo, este phôtphoric, bilirubin, vitamin D, muối canxi, sắt, đồng v.v… Trong ngưu hoàng của châu Úc, người ta còn lấy ra các loại carotenoit và các ax.it amin như alanin, glixin, torin, axit axpactic, acginin (leuxin) và methionin.
Trên cơ sở thành phần hoá học của ngưu hoàng thiên nhiên gần đây xưởng thuốc Thiên Tân Trung Quốc đã chế ra ngưu hoàng tổng hợp trị giá vẫn tới 6.000đ một kg bao gồm bilirubin 10g, cholesterol 7g, axit cholic 10g, muối vô cơ 1g, bilirubin chế từ mật lợn, từ óc bò và axit cholic ở gan bò hoặc mật bò.

Tác dụng dược lý

Ngưu hoàng tổng hợp được bán dưới dạng bột màu cá vàng, mùi thơm như mùi mít chín, đựng trong lọ màu. Ngưu hoàng là một vị thuốc đã được ghi chép sử dụng từ lâu trong đông y. Ngay trong Thần nông bản thảo đã ghi chép là “vị thuốc chủ trị kinh giản, sốt hoá điên cuồng”.

Những năm gần đây, được nghiên cứu nhiều. Sau đây là một số kết quả:

Tác dụng đối với trung khu thần kinh

– Trong báo The Journal of Oriental medecine 33, (5) 1940, nhà bác học Nhật Bản đã báo cáo: Cho chuột nhắt uống rượu ngưu hoàng với liều 5mg/ l0g thể trọng, mỗi ngày uống một lần, uống liên tục 4 đến 8 ngày, một giờ sau khi cho uống liều cuối cùng thì tiêm dưới da hoặc đầu long não (5- 10mg/10g thể trọng) hoặc dung dịch cafein benzoat natri (6mg/10g thể trọng) hoặc picrotoxin (0,02mg/ 10g thể trọng) hoặc stricnin (0,002mg/20g thể trọng) để gây co quắp thì thấy ngưu hoàng có tác dụng ngăn trở sự hưng phấn của long não, cafein và picro- toxin, nhưng không có tác dụng đối với sự hưng phấn đi tới co quắp của stricnin. Nhưng, sau khi liên tục cho uống ngưu hoàng rồi tiêm dưới da cloranhydrat, hoặc uretan hoặc bacbital để ức chế trung khu thần kinh thì thấy ngưu hoàng có tác dụng giúp cho sự trấn tĩnh được kép dài Ổng còn chứng minh bằng thực nghiêm rằng tác dụng trấn tĩnh của ngưu hoàng chủ yếu là do axit cholic, còn muối canxi cũng hơi có tác dụng trấn tĩnh nhưng không phải là chất tác dụng chủ yếu.

– Năm 1956, Chu Nhân (Trung Quốc) đã báo cáo thấy ngưu hoàng có tác dụng bảo vệ chuột nhắt khỏi tác dụng co quắp gây nên bởi cocain và mophin.

Tác dụng đối với máu:

– Trong tạp chí Đông kinh Y sự (Nhật Bản 1931) có báo cáo ngưu hoàng có tác dụng tăng hồng huyết cầu và huyết sắc tố. Trước hết, trích huyết thỏ để đi tới thiếu máu, sau đó cho uống ngưu hoàng để theo dõi sự khôi phục hồng cầu và huyết sắc tố.

– Trong tạp chí The Journal of Oriental medicine 33, (5) 1940, một tác giả Nhật Bản khác đã chứng minh lần nữa trên thực nghiệm tác dụng sinh sản hồng cầu và huyết sắc tố của ngưu hoàng và còn chứng minh rằng tác dụng đó chủ yếu do vitamin D, bilirubin và ecgosterol.
Nhưng trong ngưu hoàng có axit cholic có tính chất của saponin làm giảm sức căng mặt ngoài cho nên nếu tiếp xúc trực tiếp với hồng cầu như tiêm mạch máu, có thể gây phá huyết.

Tác dụng đối với tim mạch:

Do thành phần axit cholic của ngưu hoàng nên có tác dụng gần giống dương địa hoàng Digitalis. Nhưng nếu tiêm lượng lớn ngưu hoàng vào tĩnh mạch con chó thì thấy tác dụng trực tiếp ức chế cơ tim, đưa đến hạ huyết áp, hô hấp tăng mạnh.

Theo Chu Nhân (Trung Quốc) thì năm 1952 có tác giả nói ngưu hoàng uống vào làm mạnh tim, co mạch và đưa đến tăng huyết áp.
Chỉ định :
Ngưu hoàng thường được dùng trong nhân dân làm thuốc trấn tĩnh và mạch tim trong các triệu chứng điên cuồng, sốt quá phát cuồng, co quắp, trẻ con bị kinh phong. Thường uống dưới dạng bột hay phối hợp với các vị thuốc khác làm thành viên.  

Liều dùng 0,3-0,6g.

Theo tài liệu cổ, ngưu hoàng có vị đắng, tính bình, hơi có độc, vào hai kinh tâm và can. Có tác dụng thanh tâm giải độc, chữa hồi hộp, khai đờm. Dùng trong các bệnh nhiệt quá phát cuồng, thần trí hôn mê, trúng phong bất tỉnh, cổ họng sưng đau, ung thư, đinh nhọt. 

Doanh phận không có nhiệt và phụ nữ có thai không dùng được.


Liều lượng - cách dùng:
Đơn thuốc có ngưu hoàng:

Chữa bệnh viêm não (encephalite ti.) (Trung Hoa y học tạp chí 2/1956, 110-113).

Còn dùng chữa sốt nóng, sốt quá nói mê, co quắp. Ngưu hoàng, uất kim (nghệ), tê giác, hoàng liên, hoàng cầm, sơn chi (dành dành), chu sa, hùng hoàng (As2S3) mỗi vị 40g, xạ hương, băng phiến mỗi vị 10g, trân châu 20g. Tất cả tán nhỏ, dùng mật viên thành viên, mỗi viên nặng 4g. Bảo quản trong viên sáp. Mỗi lần uống 1 viên. Bệnh nặng thể thực có thể uống thêm. Trong ngày có thể uống tới 3 viên. Trẻ con giảm liều xuống một nửa. 

Chống chỉ định :
Phụ nữ có thai không được dùng

Thông tin thành phần Kim ngân hoa

Mô tả:

Kim ngân hoa là loại dây leo, thân có thể dài đến 9-10m, rỗng, có nhiều cành, lúc non mầu xanh, khi già mầu đỏ nâu, trên thân có những vạch chạy dọc. Lá mọc đối nhau, hình trứng dài. Hoa khi mới nở có mầu trắng, nở ra lâu chuyển thành mầu vàng. Quả hình cầu, màu đen. Nụ hoa hình gậy, hơi cong queo, dài 25cm, đường kính đạt đến 5mm. Mặt ngoài màu vàng đến vàng nâu, phủ đầy lông ngắn. Mùi thơm nhẹ vị đắng. Mùa hoa: tháng 3-5, mùa quả: tháng 6-8. Mọc hoang ở nhưng vùng rừng núi, ưa ẩm và ưa sáng.
 
Bộ phận dùng: Hoa mới chớm nở.
 
Thành phần hóa học: Hoa chứa một flavonoid là scolymosid lonicerin và một số carotenoid (S. caroten, cryptoxanthin, auroxanthin).
Tác dụng :
Cách bào chế Vị thuốc Kim ngân hoa:

+ Hoa tươi: giã nát, vắt nước, đun sôi, uống.

+ Hoa khô: sắc uống hoặc sấy nhẹ lửa cho khô, tán bột.

+ Hoa tươi hoặc khô đều có thể ngâm với rượu theo tỉ lệ 1/5 để uống.

Tác dụng dược lý:

– Kháng khuẩn: ức chế nhiều loại vi khuẩn như: tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn dung huyết, phế cầu khuẩn, trực khuẩn lị, trực khuẩn ho gà…

– Chống viêm, làm giảm chất xuất tiết, giải nhiệt và làm tăng tác dụng thực bào của bạch cầu.

– Tác dụng hưng phấn trung khu thần kinh cường độ bằng 1/6 của cà phê.

– Làm hạ cholesterol trong máu.

– Tăng bài tiết dịch vị và mật.

– Tác dụng thu liễm do có chất tanin.
Chỉ định :
Thường dùng trị mụn nhọt, ban sởi, mày đay, lở ngứa, nhiệt độc, lỵ, ho do phế nhiệt. Người ta còn dùng Kim ngân trị dị ứng (viêm mũi dị ứng và các bệnh dị ứng khác) và trị thấp khớp. Có thể chế thành trà uống mát trị ngoại cảm phát sốt, ho, và phòng bệnh viêm nhiễm đường ruột, thanh nhiệt, giải độc, trừ mẩn ngứa rôm sẩy.

Liều lượng - cách dùng:
Bài thuốc:

1. Chữa mẩn ngứa, mẩn tịt, mụn nhọt đầu đinh: Kim ngân hoa 10g, Ké đầu ngựa 4g, nước 200ml, sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.

2. Thuốc tiêu độc: Kim ngân, Sài đất, Thổ phục linh, mỗi vị 20g và Cam thảo đất 12g, sắc uống.

3. Chữa cảm sốt mới phát, sốt phát ban hay nổi mẩn, lên sởi: Dây Kim ngân 30g, Lá dâu tằm (bánh tẻ) 20g, sắc uống.

4. Chữa nọc sởi: Kim ngân hoa và rau Diếp cá, đều 10g, sao qua, sắc uống. Hoặc Kim ngân hoa 30g, Cỏ ban 30 g, dùng tươi giã nhỏ, thêm nước gạn uống, nếu dùng dược liệu khô thì sắc uống.
Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ
Hỏi đáp
Thuốc biệt dược
Kids Smart Drops Vitamin D3

Kids Smart Drops Vitamin D3

SĐK:4450/2019/ĐKSP

Kids Smart Drops Probiotic

Kids Smart Drops Probiotic

SĐK:6361/2019/ĐKSP

Ctt Beliver

Ctt Beliver

SĐK:21507/2016/ATTP-XNCB

Folitop

Folitop

SĐK:19/2018/0102667515-DKCB

Thuốc gốc

Cilostazol

Cilostazol

Oseltamivir

Oseltamivir

Tiaprofenic acid

Tiaprofenic acid

Tiropramide

Tiropramide HCl.

Rebamipide

Rebamipide

Desloratadine

Desloratadine

Montelukast

Montelukast

Azithromycin

Azithromycin

Eperisone

Eperisone hydrochloride

Paracetamol

Acetaminophen

- Thuocbietduoc.com.vn cung cấp thông tin về hơn 30.000 loại thuốc theo toa, thuốc không kê đơn. - Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn cho mục đích tham khảo, tra cứu và không dành cho tư vấn y tế, chẩn đoán hoặc điều trị. - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
Thông tin Thuốc và Biệt Dược
- Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn
- Contact: VBCmedia, Jsc. - No 34, Louis Metropolis, Hanoi - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn