Ngưu hoàng hoàn

Ngưu hoàng hoàn
Dạng bào chế:Viên hoàn mềm
Đóng gói:Hộp 10 viên hoàn mềm x 8g

Thành phần:

Mỗi viên hoàn 8g tương đương với Ngưu đởm tinh 0,32g; Ngưu hoàng 0,032g; Toàn yết 0,08g; Phục linh 0,24g; Tạo giác thích 0,08g; Đại hoàng 0,16g; Cam thảo 0,16g; Cát cánh 0,32g; Xuyên khung 0,24g; Tế tân 0,16g; Băng phiến 0,08g; Phòng phong 0,24g; Thiên trúc hoàng 0,16g; Thuyền thoái 0,08g; Hoài sơn 0,24g; Cương tàm 0,08g; Hoàng cầm 0,24g; Mộc hương 0,24g; Chỉ xác 0,24g; Bạch chỉ 0,24g
SĐK:V177-H02-19
Nhà sản xuất: Cơ sở sản xuất thuốc đông nam dược Nhuận Đức Đường - VIỆT NAM Estore>
Nhà đăng ký: Cơ sở sản xuất thuốc đông nam dược Nhuận Đức Đường Estore>
Nhà phân phối: Estore>

Thông tin thành phần Ngưu hoàng

Mô tả:

Ngưu hoàng thiên nhiên là sạn mật hay sỏi mật của con trâu có bệnh Buhalus hubalis L. hoặc con bò-Bos taurus var. domeslicus Gmelin có bệnh thuộc họ Trâu bò Bovidae.
Vị ngưu hoàng ở nước ta có nhưng chưa biết khai thác nên vẫn phải nhập của Trung Quốc, Từ tháng 8 năm 1961, đã phát hiện và giới thiệu trong lớp dược liệu 8/61 rằng một số trâu bò ở nước ta cũng có ngưu hoàng.

Trước đây, khi chế cao mật thấy những túi mật có sạn lại bỏ đi. Hiện nay rải rác đã có nơi thu thập ngưu hoàng.

Cách chế ngưu hoàng

Hiện nay vì mới phát hiện nên chưa có kinh nghiêm để phân biệt con trâu bò nào có ngưu hoàng: Những người mổ trâu bò ở Hà Nội nhận thấy trâu bò vùng Vĩnh Linh đưa ra thường hay có. Theo các tài liệu những con trâu bò già, gầy yếu, mắt lờ đờ, khi đi đầu hay quay nghiêng, đứng hoặc nằm thường hay thở khò khè như bị hen thường là trâu bò có ngưu hoàng.

Tốt nhất là khi mổ trâu bò, lấy túi mật thì nắn túi và ống mật hễ thấy có cục rắn cứng thì nên sớm rạch túi mật ra, lọc qua rây, lấy mật riêng và ngưu hoàng riêng. Nếu để lâu, dịch mật ngấm vào ngưu hoàng sẽ làm ngưu hoàng bị đen, phẩm chất kém,
Sau khi lấy ngưu hoàng chú ý dùng vải mềm hay gạc sạch gạt bỏ các màng nhầy dính xung quanh, dùng thông thảo hoặc bấc đèn đăng tâm thảo (xem vị này) hoặc bông bọc lại, ngoài cùng bọc một lớp vải thưa, buộc cẩn thận. Cho vào hộp kín trong có vôi cục chưa tôi hoặc gạo rang hay silicagien để hút ẩm. Chú ý hộp phải kín thì khả năng hút ẩm của vôi hay gạo rang mới thể hiện tốt. Nhất thiết không phơi nắng hay sấy lửa hoặc để ở chỗ có gió mạnh vì sức nóng ánh sáng mặt trời hoặc gió mạnh làm ngưu hoàng nứt vỡ. sẫm lại, phẩm chất sẽ kém. Mùa thu hoạch quanh năm.

Tuỳ theo trình độ kết sạn, ngưu hoàng to nhỏ không nhất định, lớn có thể bằng quả trứng gà, nhỏ bằng hòn cuội hoặc như viên sạn. Khi cái ngang trông thấy như gồm nhiều lớp dính chặt vào nhau có màu vàng nâu hoặc nâu đỏ. Cần gói kín, để trong lọ màu dưới đáy có gạo rang hoặc vôi cục. Ta nên chú ý khi khai thác vì nhu cầu trong nước hàng năm tuy chỉ chừng 20kg, nhưng trị giá tới 240.000 đ, vả lại ngay Trung Quốc là nơi ta vẫn nhập cảng vẫn phải nhập của châu Úc, Canada và Ấn Độ.

Thành phần hoá học

Trong ngưu hoàng có axit cholic, cholesterol, ergosterol, axit béo, este phôtphoric, bilirubin, vitamin D, muối canxi, sắt, đồng v.v… Trong ngưu hoàng của châu Úc, người ta còn lấy ra các loại carotenoit và các ax.it amin như alanin, glixin, torin, axit axpactic, acginin (leuxin) và methionin.
Trên cơ sở thành phần hoá học của ngưu hoàng thiên nhiên gần đây xưởng thuốc Thiên Tân Trung Quốc đã chế ra ngưu hoàng tổng hợp trị giá vẫn tới 6.000đ một kg bao gồm bilirubin 10g, cholesterol 7g, axit cholic 10g, muối vô cơ 1g, bilirubin chế từ mật lợn, từ óc bò và axit cholic ở gan bò hoặc mật bò.

Tác dụng dược lý

Ngưu hoàng tổng hợp được bán dưới dạng bột màu cá vàng, mùi thơm như mùi mít chín, đựng trong lọ màu. Ngưu hoàng là một vị thuốc đã được ghi chép sử dụng từ lâu trong đông y. Ngay trong Thần nông bản thảo đã ghi chép là “vị thuốc chủ trị kinh giản, sốt hoá điên cuồng”.

Những năm gần đây, được nghiên cứu nhiều. Sau đây là một số kết quả:

Tác dụng đối với trung khu thần kinh

– Trong báo The Journal of Oriental medecine 33, (5) 1940, nhà bác học Nhật Bản đã báo cáo: Cho chuột nhắt uống rượu ngưu hoàng với liều 5mg/ l0g thể trọng, mỗi ngày uống một lần, uống liên tục 4 đến 8 ngày, một giờ sau khi cho uống liều cuối cùng thì tiêm dưới da hoặc đầu long não (5- 10mg/10g thể trọng) hoặc dung dịch cafein benzoat natri (6mg/10g thể trọng) hoặc picrotoxin (0,02mg/ 10g thể trọng) hoặc stricnin (0,002mg/20g thể trọng) để gây co quắp thì thấy ngưu hoàng có tác dụng ngăn trở sự hưng phấn của long não, cafein và picro- toxin, nhưng không có tác dụng đối với sự hưng phấn đi tới co quắp của stricnin. Nhưng, sau khi liên tục cho uống ngưu hoàng rồi tiêm dưới da cloranhydrat, hoặc uretan hoặc bacbital để ức chế trung khu thần kinh thì thấy ngưu hoàng có tác dụng giúp cho sự trấn tĩnh được kép dài Ổng còn chứng minh bằng thực nghiêm rằng tác dụng trấn tĩnh của ngưu hoàng chủ yếu là do axit cholic, còn muối canxi cũng hơi có tác dụng trấn tĩnh nhưng không phải là chất tác dụng chủ yếu.

– Năm 1956, Chu Nhân (Trung Quốc) đã báo cáo thấy ngưu hoàng có tác dụng bảo vệ chuột nhắt khỏi tác dụng co quắp gây nên bởi cocain và mophin.

Tác dụng đối với máu:

– Trong tạp chí Đông kinh Y sự (Nhật Bản 1931) có báo cáo ngưu hoàng có tác dụng tăng hồng huyết cầu và huyết sắc tố. Trước hết, trích huyết thỏ để đi tới thiếu máu, sau đó cho uống ngưu hoàng để theo dõi sự khôi phục hồng cầu và huyết sắc tố.

– Trong tạp chí The Journal of Oriental medicine 33, (5) 1940, một tác giả Nhật Bản khác đã chứng minh lần nữa trên thực nghiệm tác dụng sinh sản hồng cầu và huyết sắc tố của ngưu hoàng và còn chứng minh rằng tác dụng đó chủ yếu do vitamin D, bilirubin và ecgosterol.
Nhưng trong ngưu hoàng có axit cholic có tính chất của saponin làm giảm sức căng mặt ngoài cho nên nếu tiếp xúc trực tiếp với hồng cầu như tiêm mạch máu, có thể gây phá huyết.

Tác dụng đối với tim mạch:

Do thành phần axit cholic của ngưu hoàng nên có tác dụng gần giống dương địa hoàng Digitalis. Nhưng nếu tiêm lượng lớn ngưu hoàng vào tĩnh mạch con chó thì thấy tác dụng trực tiếp ức chế cơ tim, đưa đến hạ huyết áp, hô hấp tăng mạnh.

Theo Chu Nhân (Trung Quốc) thì năm 1952 có tác giả nói ngưu hoàng uống vào làm mạnh tim, co mạch và đưa đến tăng huyết áp.

Chỉ định :

Ngưu hoàng thường được dùng trong nhân dân làm thuốc trấn tĩnh và mạch tim trong các triệu chứng điên cuồng, sốt quá phát cuồng, co quắp, trẻ con bị kinh phong. Thường uống dưới dạng bột hay phối hợp với các vị thuốc khác làm thành viên.  

Liều dùng 0,3-0,6g.

Theo tài liệu cổ, ngưu hoàng có vị đắng, tính bình, hơi có độc, vào hai kinh tâm và can. Có tác dụng thanh tâm giải độc, chữa hồi hộp, khai đờm. Dùng trong các bệnh nhiệt quá phát cuồng, thần trí hôn mê, trúng phong bất tỉnh, cổ họng sưng đau, ung thư, đinh nhọt. 

Doanh phận không có nhiệt và phụ nữ có thai không dùng được.


Liều lượng - cách dùng:

Đơn thuốc có ngưu hoàng:

Chữa bệnh viêm não (encephalite ti.) (Trung Hoa y học tạp chí 2/1956, 110-113).

Còn dùng chữa sốt nóng, sốt quá nói mê, co quắp. Ngưu hoàng, uất kim (nghệ), tê giác, hoàng liên, hoàng cầm, sơn chi (dành dành), chu sa, hùng hoàng (As2S3) mỗi vị 40g, xạ hương, băng phiến mỗi vị 10g, trân châu 20g. Tất cả tán nhỏ, dùng mật viên thành viên, mỗi viên nặng 4g. Bảo quản trong viên sáp. Mỗi lần uống 1 viên. Bệnh nặng thể thực có thể uống thêm. Trong ngày có thể uống tới 3 viên. Trẻ con giảm liều xuống một nửa. 

Chống chỉ định :

Phụ nữ có thai không được dùng

Thông tin thành phần Toàn Yết

Mô tả:

Vị thuốc Toàn yết là một loài có đốt, đầu và ngực ngắn; bụng tương đối dài hơn, phía dưới của bụng thót lại và dài, cuối cùng có ngòi mang nọc độc. Đầu, ngực, bụng tròn hình bầu dục, dài mà hẹp, bằng, bụng dưới giống như cái đuôi, nhăn nheo, cong, toàn thân nguyên vẹn dài khoảng 5cm. Phần đầu ngực mầu nâu đen, mặt trước có một đôi càng tương đối nhỏ và một đôi càng to giống như càng cua, mặt lưng lại có vẩy, mặt bụng có 4 đôi chân đều có 7 đốt, đầu mỗi chân đều có 2 móng móc câu. Phần bụng trên có đốt vòng, mặt lưng mầu nâu, mặt bụng mầu vàng nâu. Bụng dưới hẹp, dài giống cái đuôi, mầu vàng nâu, cũng có đốt vòng, trên mỗi đốt đều có đường rãnh dọc, đầu đốt cuối cùng có kèm gai độc như móc câu nhọn. Bẻ gẫy chỗ bụng dưới thì bên trong rỗng. Mùi hơi tanh, vị mặn (Dược Tài Học).

Địa lý: Thường sống ở dưới những hòn đá hoặc khe vách.

Bộ phận dùng:

Nếu dùng cả con Bọ cạp làm thuốc thì gọi là Toàn yết. Nếu chỉ dùng đuôi không thôi thì gọi là Yết vĩ. Thứ nguyên vẹn, không nát vụn, mầu vàng, trong bụng ít tạp chất và muối là tốt.

Thu hoạch, Sơ chế: Thường bắt bọ cạp vào mùa xuân và mùa hạ.

Bào chế:

- Theo Trung Y: Cách chế Toàn yết nhạt: đem Bọ cạp sống nhúng vào trong nồi nước sôi, vớt ra phơi khô. Cách chế biến Toàn yết mặn: đem toàn yết tươi cho vào trong nước muối ngâm 6 - 8 giờ, sau lại nấu với nước muối, phơi âm Can cho khô (thường dùng) (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

- Theo kinh nghiệm Việt Nam: Mua về (đã muối) bỏ đầu, phân. Khi bắt được cho ngay vào chậu hay nồi nước trong hoặc nước có pha thêm muối ăn (mỗi kilogam Bọ cạp cho thêm 300 đến 500g muối ăn). Đậy vung lại và đun từ 3 đến 4 giờ cho đến khi cạn nước. Lấy Bọ cạp ra phơi mát cho khô, không nên phơi nắng, vì nếu phơi nắng, muối có thể kết tinh. Khi dùng lại phải ngâm nước rửa cho sạch hết muối đi.

Bảo quản: Mùa hạ dễ chảy nước, mục nát, biến chất, sinh sâu bọ.

Tác dụng dược lý:

+ Thuốc có tác dụng chống co giật yếu hơn Ngô công (Trung Dược Học).

+ Toàn yết có tác dụng hạ áp lâu dài. Nhiều tác giả cho rằng chế phẩm Toàn yết ảnh hưởng đến chức năng vận mạch của trung khu thần kinh, làm dãn mạch, trực tiếp ức chế hoạt động của tim và làm giảm tác dụng tăng áp của Adrenalin (Trung Dược Học).

+ Tác dụng kháng khuẩn: Ngô công có tác dụng ức chế với mức độ khác nhau đối với trực khuẩn lao và nấm ngoài da (Trung Dược Học).

+ Trong Bọ cạp có chất độc gọi là Katsufoxin là một chất protid có Carbon, Hydro, Oxy, Nitơ và Sulfur (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

Độc tính: LD50 trên súc vật thí nghiệm là 0,07-0,7mg/kg tuỳ thuộc loại súc vật thí nghiệm. Ở thỏ thí nghiệm, thuốc gây co cứng chi và liệt hô hấp (Trung Dược Học).

Tính vị:

+ Tính bình (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

+ Vị ngọt, cay, có độc (Khai Bảo Bản Thảo).

+ Vị ngọt, tính bình, có độc (Phẩm Hối Tinh Nghĩa).

+ Vị cay, chua mặn, tính hàn (Y Lâm Toản Yếu).

+ Vị cay, tính bình, có độc (Trung Dược Học).

Quy kinh:

+ Vào kinh túc Quyết âm Can (Bản Thảo Cương Mục).

+ Vào kinh Can (Trung Hoa Bản Thảo).

+ Vào kinh Can (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Chỉ định :

+ Trị các chứng phong chẩn, trúng phong liệt nửa người, méo miệng, nói khó, chân tay co giật (Khai Bảo Bản Thảo).

+ Trị kinh phong (Bản Thảo Diễn Nghĩa).

+ Trị trẻ nhỏ kinh phong, co giật, các loại phong lở loét (Bản Thảo Cương Mục).

+ Trị các chứng phong, hoa mắt , chóng mặt, động kin, co giật, mắt lệch, miệng méo… bệnh ở Quyết âm phong mộc (Bản Thảo Tùng Tân).

+ Chủ trị các chứng phong, kiêm năng ích Tâm, hạ thanh thuỷ thận thuỷ (Y Lâm Toản Yếu).

Liều lượng - cách dùng:


Liều dùng: 2-8g hoặc 2 con đến 4 con.

Chống chỉ định :

+ Kỵ nước lạnh (Bảo Khánh Bản Thảo Sở Tham).

+ Giống như trúng phong hoặc trẻ nhỏ bị mạn tỳ phong thuộc hư chứng: không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

+ Không thể uống lâu vì vị cay làm cho khí bị tán đi (Bản thảo Tân Biên).

+ Chứng đới hạ mà không có phong không có nhiệt: không dùng Bản Thảo Cầu Chân).

+ Huyết hư sinh phong, phụ nữ có thai: không dùng (Trung Hoa Bản Thảo).

+ Các chứng như miệng khô khát nước và đàn bà có thai thì cấm dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

Bạn đọc phản hồi ( 0 )

Bình luận

Hỏi đáp
Thuốc biệt dược

Hoàn sâm lộc TW3

SĐK:VD-33174-19
Mỗi hoàn mềm 8g chứa: Hoài sơn1,052g; Cẩu tích 0,50g; Đảng sâm 0,50g; Thục địa 0,50g; Liên nhục 0 ...

PQA Mát gan giải độc

SĐK:VD-33519-19
Mỗi gói 1,4g hoàn cứng chứa 1,0 g cao khô Diệp hạ châu đắng tương đương: Diệp hạ châu đắng 10g

Hoàn độc hoạt tang ký sinh TW3

SĐK:VD-33578-19
Mỗi 1g viên hoàn chứa: Độc hoạt 48,75mg; Quế nhục 32,5mg; Đương quy 32,5mg; Tế tân 32,5mg; Xuyên khu ...

Circuling

SĐK:VD-33650-19
Cao đặc toàn phần 480mg (tương đương 2050mg dược liệu, bao gồm: Đương quy 300mg; Đào nhân 200mg; Chỉ ...

Bạch y phong tê thấp Khải Hà

SĐK:VD-33788-19
Mỗi 5g hoàn cứng chứa 3g cao khô hỗn hợp tương đương với dược liệu: Độc hoạt 3g; Quế nhục 2g; Phòng ...

Mộc long

SĐK:VD-33849-19
Mỗi gói 4g hoàn cứng chứa: Nhân trần tía 0,4 g; Sài đất 0,4 g; Bạch chỉ (rễ) 0,4 g; Ké đầu ngựa 0 ...

Thuốc gốc

Pimecrolimus

Pimecrolimus

Ursodiol

Ursodiol

Aescin

Aescine

Lá Bạch quả

Cao khô lá bạch quả

Obinutuzumab

obinutuzumab

Betahistine

Betahistine dihydrochloride

Tacrolimus

Tacrolimus

Tiopronin

Tiopronin

Flurandrenolide

Flurandrenolid

Rituximab

Rituximab

Ích trí nhân

Ích trí nhân

Sâm đại hành

Eleutherine subaphylla Gagnep

Cây kế sữa

Silybum Marianum

Mật ong

mật ong

Vàng đắng

Coscinium fenestratum

Thuoc biet duoc | Thuốc biệt dược | Thuốc | Thuoc | Nhà thuốc | Phòng khám | Bệnh viện | Công ty dược phẩm
- Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn chỉ mang tính chất tham khảo - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
"Thông tin Thuốc và Biệt Dược" - Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn