Recormon

Recormon
Dạng bào chế:Dung dịch tiêm trong bút tiêm nạp sẵn
Đóng gói:Hộp 6 syringe 0,3ml

Thành phần:

Hàm lượng:
4000 UI/0,3ml
SĐK:VN-11027-10
Nhà sản xuất: F.Hoffmann-La Roche., Ltd - THỤY SĨ Estore>
Nhà đăng ký: F.Hoffmann-La Roche., Ltd Estore>
Nhà phân phối: Estore>

Chỉ định:

- Điều trị thiếu máu liên quan đến bệnh nhân suy thận mãn bao gồm bệnh nhân lọc máu và bệnh nhân không lọc máu.
- Thiếu máu ở bệnh nhân HIV.
- Thiếu máu ở bệnh nhân ung thư do sử dụng hoá trị liệu.
- Giảm sự truyền máu ở bệnh nhân phẫu thuật.
- Thiếu máu ở trẻ sinh non.

Liều lượng - Cách dùng

- Bệnh nhân trưởng thành lọc máu mãn tính: Tiêm 50 IU/kg/liều x 3 lần/tuần đường tĩnh mạch, 40 IU/kg/liều x 3 lần/tuần tiêm dưới da.
- Bệnh nhân không cần thiết lọc máu: Tiêm 75 - 100 IU/kg mỗi tuần.
- Bệnh nhân nhiễm HIV đang dùng zidovudine: 100 IU/kg x 3 lần/tuần tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da, liều tối đa 300 IU/kg x 3 lần/tuần.
- Bệnh nhân ung thư đang hoá trị: 150 IU/kg x 3 lần/tuần tiêm dưới da.
- Truyền máu cho bệnh nhân phẫu thuật: 300 IU/kg/ngày tiêm dưới da trong 10 ngày trước mổ.
- Thiếu máu ở trẻ sinh non: 250 IU/kg x 3 lần/tuần tiêm dưới da từ tuần thứ 2 sau sinh & trong 8 tuần tiếp theo.

Chống chỉ định:

Không dùng thuốc cho các bệnh nhân:
- Cao huyết áp động mạch không kiểm soát.
- Có tiền sử mẫn cảm với human albumin.
- Có tiền sử mẫn cảm với các chế phẩm có nguồn gốc từ tế bào động vật có vú.
- Tương tác với thành phần của thuốc.

Tác dụng phụ:

Đau đầu, đau khớp, mệt mỏi, buồn nôn, tiêu chảy.

Chú ý đề phòng:

Thận trọng với bệnh nhân có tai biến co giật.

Bảo quản:

- Bảo quản ở nơi khô thoáng, 25 độ C hoặc dưới.
- Tránh ánh sáng trực tiếp trong quá trình bảo quản.
- Không để đóng băng.

Thông tin thành phần Epoetin Alfa

Dược lực:

Epoetin Alfa là một trong những erythropoietin người tái tổ hợp, chứa 165 acid amin. Erythropoietin là một tác nhân kích thích sự phân bào và là nội tiết tố biệt hóa có tác dụng kích thích sinh hồng cầu. Epoetin alfa không khác biệt với erythropoietin người về tính chất sinh học.

Dược động học :

- Hấp thu: Tiêm tĩnh mạch: Thời gian bán hủy khoảng 4 giờ được đo lường sau khi dùng epoetin alfa tiêm tĩnh mạch lặp đi lặp lại với liều 50-100UI/kg trên người khoẻ mạnh và thời gian bán hủy dài hơn khoảng 5 giờ trên người suy thận, sau những liều 50, 100, 150UI/kg. Thời gian bán hủy khoảng 6 giờ được ghi nhận ở bệnh nhân nhi.
Tiêm dưới da: Nồng độ huyết thanh khi tiêm dưới da thấp hơn tiêm tĩnh mạch. Nồng độ huyết thanh gia tăng chậm và đạt đỉnh 12-18 giờ sau khi tiêm dưới da. Nồng độ đỉnh tiêm dưới da luôn thấp hơn tiêm tĩnh mạch. Không có tích lũy: nồng độ huyết thanh vẫn không thay đổi cho dù những dữ liệu được thu nhận 24 giờ sau liều đầu tiên hay 24 giờ sau liều cuối cùng.
+ Dữ liệu về thời gian đạt được nồng độ của erythropoetine ở tuần 1 và tuần 4 tương tự khi dùng liều đa 600 UI/kg 1 lần 1 tuần ở người khoẻ mạnh.
+ Dữ liệu về dược động học cho thấy không có sự khác nhau rõ về thời gian bán hủy giữa bệnh nhân người lớn trên hoặc dưới 65 tuổi.
+ Một nghiên cứu trên 7 trẻ sơ sinh sinh non nhẹ ký và 10 người lớn khoẻ mạnh sử dụng erythropoetin tiêm tĩnh mạch cho thấy thể tích phân bố ở trẻ sơ sinh sinh non cao hơn khoảng 1,5-2 lần ở người lớn khoẻ mạnh và độ thanh thải ở trẻ sơ sinh sinh non cao hơn 3 lần so với người lớn khoẻ mạnh.
+ Thời gian bán hủy khi dùng tiêm dưới da khoảng 24 giờ.

Tác dụng :

Hiệu quả sinh học Epoetin alfa đã được chứng minh in vivo ở các mẫu động vật khác nhau (chuột cống bình thường và thiếu máu, chuột nhắt bị bệnh tăng hồng cầu). Sau khi dùng Epoetin alfa, số lượng hồng cầu, nồng độ Hb, số lượng hồng cầu lưới và tỉ lệ Sắt 59 - hợp nhất gia tăng. Ðiều này cho thấy, với sự hỗ trợ về cấu trúc tế bào của các tế bào tủy xương người, Epoetin alfa đặc biệt kích thích sinh hồng cầu mà không ảnh hưởng sự tạo bạch cầu. Không thấy có tác động gây độc tế bào của Epoetin alfa đối với các tế bào tủy xương.

Chỉ định :

- Ðiều trị thiếu máu do suy thận mạn ở bệnh nhân nhi và người lớn thẩm phân máu, thẩm phân phúc mạc, và người lớn tiền thẩm phân.
- Ðiều trị thiếu máu và giảm nhu cầu truyền máu ở bệnh nhân người lớn ung thư không phải dạng tủy bào (có hay không có hoá trị liệu).
- Ðiều trị thiếu máu ở các bệnh nhân nhiễm HIV đang được điều trị bằng zidovudine có mức erythopoietin nội sinh ≤ 500 mU/mL.
- Làm nhanh việc lấy máu tự thân trong chương trình gửi máu trước và làm giảm nguy cơ của việc truyền máu dị thân ở những bệnh nhân có haematocrit 33-39% mà đã được lên chương trình cho một cuộc phẫu thuật lớn có chọn lọc và dự kiến cần nhiều máu hơn lượng máu mà họ có thể có được thông qua kỹ thuật lấy máu tự thân không sử dụng Epoetin alfa. - Epoetin alfa được chỉ định dùng cho bệnh nhân người lớn thiếu máu nhẹ và trung bình (10g/dl < Hb#13g/dl) được lên chương trình cho một cuộc phẫu thuật có chọn lọc với dự kiến mất máu trung bình (2-4 đơn vị hoặc 900 đến 1800ml) để giảm nguy cơ của việc truyền máu dị thân và tăng cường phục hồi erythropoietin.

Liều lượng - cách dùng:

Hướng dẫn sử dụng:
Epoetin alfa có thể được chỉ định tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da.
Vì thuốc được chỉ định theo đường tiêm, nên dung dịch tiêm phải được kiểm tra về các tiểu phân và sự biến màu trước khi dùng. Không được lắc, vì lắc có thể làm biến tính glycoprotein, làm bất hoạt thuốc.
Epoetin alfa ở dạng ống tiêm sử dụng 1 lần không chứa chất bảo quản. Không tái sử dụng. Bỏ những phần không sử dụng.
Epoetin alfa được bảo quản ở nhiệt độ 2-8 độ C.
Tiêm tĩnh mạch:
Epoetin alfa nên được tiêm ít nhất trên 1 phút đến 5 phút, tùy thuộc vào tổng liều. Nên tiêm chậm trên bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng giả cúm.
Ở bệnh nhân thẩm phân máu, nên tiêm thuốc 1 lần trong suốt quá trình thẩm phân thông qua cửa tĩnh mạch thích hợp trên đường thầm phân. Có thể thay đổi tiêm qua kim cầu nối ngay khi kết thúc thẩm phân, sau đó dùng 10ml nước muối đẳng trương để rửa ống và đảm bảo thuốc được tiêm vào tuần hoàn chung.
Epoetin alfa không nên chỉ định truyền tĩnh mạch hoặc pha trộn với các thuốc khác.
Tiêm dưới da:
Thể tích tối đa cho mỗi lần tiêm nên là 1ml. Trong trường hợp thể tích lớn hơn, nên tiêm nhiều nơi.
Nên tiêm ở chân tay hoặc thành bụng trước.
Liều lượng và Cách dùng:
Bệnh nhân suy thận mạn:
Ở bệnh nhân suy thận mạn, nơi đường vào tĩnh mạch có sẵn (ở những bệnh nhân chạy thận nhân tạo) sử dụng đường tiêm tĩnh mạch thích hợp hơn. Ở những bệnh nhân chưa chạy thận và bệnh nhân thẩm phân phúc mạc, nơi đường vào tĩnh mạch không có sẵn, Epoetin alfa nên được tiêm dưới da.
Nồng độ haemoglobin đích nên là 10-12g/dl ở người lớn và 9,5-11g/dl ở trẻ em.
Ở bệnh nhân suy thận mạn có bệnh thiếu máu tim biểu hiện trên lâm sàng hoặc suy tim xung huyết, nên duy trì nồng độ haemoglobin không nên vượt quá giới hạn trên của nồng độ Hb đích. Nên đánh giá tình trạng sắt trước và trong khi điều trị, chỉ định bổ sung sắt nếu cần thiết. Các nguyên nhân gây thiếu máu nên được loại trừ trước khi bắt đầu điều trị bằng Epoetin alfa. Khi không đáp ứng với Epoetin alfa, nên tìm hiểu ngay các yếu tố gây ra. Bao gồm: thiếu sắt, folate, vitamin B12, nhiễm độc nhôm, nhiễm trùng, mất máu, huyết tán và xơ hoá tủy xương.
Khi thay đổi đường tiêm, nên khởi đầu cùng 1 liều và điều chỉnh để đạt được Hb chuẩn.
Trong giai đoạn chỉnh liều, nên tăng liều Epoetin alfa nếu haemoglobin tăng < 1g/dl/tháng. Thông thường ghi nhận mức gia tăng haemoglobin có ý nghĩa lâm sàng sau hơn 2 tuần và có thể đến 6-10 tuần ở một vài bệnh nhân. Một khi đạt nồng độ haemoglobin đích, nên giảm liều 25 IU/kg/liều để tránh tình trạng haemoglobin vượt quá tầm đích. Nên giảm liều khi Hb đạt được 12g/dl. Có thể giảm liều bằng cách bỏ đi một trong các liều dùng mỗi tuần hoặc bằng cách giảm số lượng thuốc mỗi liều.
Bệnh nhân ung thư:
Ở bệnh nhân ung thư người lớn:
Nên dùng đường tiêm dưới da.
Nồng độ Hb đích nên đạt đến 12g/dl. Nên tiếp tục dùng Epoetin alfa thêm 1 tháng sau khi kết thúc hóa trị. Tuy nhiên, nhu cầu điều trị Epoetin alfa nên được đánh giá định kỳ.
Liều khởi đầu điều trị thiếu máu nên là 150 IU/kg, 3 lần/tuần.
Nếu sau 4 tuần điều trị ở liều khởi đầu, Hb tăng tối thiểu khoảng 1g/dl (hoặc hồng cầu lưới tăng ≥ 40.000 tb/mcl), liều nên được duy trì không đổi.
Nếu sau 4 tuần điều trị ở liều khởi đầu, Hb không tăng ≥ 1g/dl (và hồng cầu lưới không tăng ≥ 40.000 tb/mcl), không có truyền máu, nên tăng liều đến 300 UI/kg 3 lần mỗi tuần.
Nếu sau khi điều trị thêm 4 tuần với liều 300 UI/kg 3 lần mỗi tuần, Hb tăng ≥ 1g/dl (hoặc hồng cầu lưới tăng ≥ 40.000 tb/mcl), liều nên được duy trì không đổi.
Nếu sau khi điều trị thêm 4 tuần với liều 300 UI/kg 3 lần/tuần, Hb tăng < 1g/dl (và hồng cầu lưới tăng < 40.000 tb/mcl) nên ngưng điều trị.
Nên tránh gia tăng Hb trên 2g/dl mỗi tháng hoặc nồng độ Hb > 13g/dl. Nếu Hb đang gia tăng > 2g/dl hoặc Hb đạt khoảng 12g/dl mỗi tháng thì nên giảm liều Epoetin alpha khoảng 25-50% dựa vào tốc độ tăng Hb. Nếu Hb vượt quá 13g/dl, ngưng điều trị cho đền khi Hb tụt đến 12g/dl thì dùng lại với liều thấp hơn liều ban đầu 25%.
Ở bệnh nhi ung thư:
Những tài liệu báo cáo ghi nhận việc sử dụng Epoetin alfa ờ bệnh nhi ung thư từ 6 tháng đến 18 tuổi, được điều trị với liều 25-300UI/kg bằng đường tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch, 3 đến 7 lần mỗi tuần, cho thấy sự tăng Hb và giảm nhu cầu truyền máu.
Bệnh nhân người lớn nhiễm HIV, được điều trị Zidovudine:
Trước khi bắt đầu Epoetin alfa, nồng độ erythropoietin trong huyết thanh nên được xác định trước khi truyền. Theo nghiên cứu, bệnh nhân có nồng độ erythropoietin trong huyết thanh > 500 mU/ml sẽ không đáp ứng với điều trị bằng Epoetin alfa.
Giai đoạn điều chỉnh:
100UI/kg x 3 lần/tuần trong 8 tuần bằng tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch. Nếu chưa đáp ứng (ví dụ giảm nhu cầu truyền máu hoặc Hb gia tăng) sau 8 tuần điều trị, thì có thể gia tăng liều Epoetin alfa thêm 50-100UI/kg x 3 lần/tuần trong khoảng thời gian ít nhất 4 tuần. Nếu bệnh nhân vẫn không đáp ứng đầy đủ với Epoetin alfa ở liều 300 IU/kg x 3 lần/tuần, thì được xem như không đáp ứng ở liều cao hơn.
Giai đoạn duy trì:
Sau khi đã đạt được đáp ứng như mong muốn, liều dùng nên được điều chỉnh để duy trì haematocrit giữa 30-35%, dựa trên các yếu tố như sự thay đổi liều zidovudine, sự hiện diện của nhiễm trùng gian phát hoặc các giai đoạn viêm. Nếu haematocrit vượt quá 40%, nên tạm ngưng điều trị cho tới khi haematocrit giảm đến 36%. Khi bắt đầu điều trị lại, liều dùng nên được giảm khoảng 25% và sau đó điều chỉnh lại liều để duy trì mức haematocrit mong muốn.
Bệnh nhân nhi nhiễm HIV, được điều trị Zidovudine:
Những tài liệu báo cáo ghi nhận việc sử dụng Epoetin alfa ở bệnh nhi nhiễm HIV điều trị Zidovudine từ 8 tháng đến 17 tuổi, được điều trị với liều 50-400UI/kg bằng đường tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch, 2 đến 3 lần mỗi tuần cho thấy sự tăng Hb và hồng cầu lưới, giảm hoặc loại bỏ truyền máu.
Bệnh nhân người lớn phẫu thuật trong chương trình tiền hiến máu tự thân:
Nên sử dụng Epoetin alfa bằng đường tiêm tĩnh mạch.
Epoetin alfa nên được sử dụng sau khi hoàn tất mỗi kỳ lấy máu tự thân.
Tình trạng sắt nên được đánh giá trước khi điều trị bằng Epoetin alfa. Sự thiếu sắt nếu có thì nên được điều trị trước khi cho phép bệnh nhân tham gia chương trình hiến máu tự thân. Bệnh nhân thiếu máu cần được phát hiện nguyên nhân gây thiếu máu trước khi bắt đầu liệu pháp Epoetin alfa.
Tất cả bệnh nhân được điều trị bằng Epoetin alfa nên được bổ sung đầy đủ sắt (ví dụ: 200mg sắt nguyên tố uống mỗi ngày) trong suốt quá trình điều trị bằng Epoetin alfa. Ðể đạt đến mức dự trữ sắt cao trước khi bắt đầu liệu pháp Epoetin alfa, nên bổ sung sắt càng sớm càng tốt, có thể vài tuần trước khi bắt đầu hiến máu tự thân.
Các bệnh nhân thiếu máu nhẹ (có Hct 33-39% hay Hb 10-13g/dl), cần dự trữ (≥ 4 đơn vị) máu thì liều Epoetin alfa sử dụng là 600UI/kg, 2 lần/tuần trong vòng 3 tuần trước khi phẫu thuật.
Ðối với những bệnh nhân có nhu cầu kích thích tạo máu ở mức độ ít hơn, liều sử dụng là 150-300UI/kg, 2 lần/tuần cho thấy làm tăng hiệu quả tiền hiến máu tự thân và làm giảm sự sụt giảm Hct sau phẫu thuật.
Bệnh nhân người lớn chuẩn bị phẫu thuật (không hiến máu tự thân):
Nên sử dụng Epoetin alfa bằng đường tiêm dưới da.
Tất cả bệnh nhân nên được bổ sung sắt đầy đủ, việc bổ sung sắt (tối thiểu 200mg sắt nguyên tố uống mỗi ngày) nên được bắt đầu không chậm trễ hơn khi bắt đầu điều trị bằng Epoetin alfa và nên được tiếp tục suốt quá trình điều trị.
Liều dùng Epoetin alfa là 600UI/kg/tuần, dưới da trong 3 tuần vào các ngày 21,14, 7 trước phẫu thuật và vào ngày phẫu thuật.
Trong trường hợp cần giảm thời gian dùng thuốc vì sẽ phẫu thuật trong vòng ít hơn 3 tuần, liều sử dụng là 300UI/kg, trong 10 ngày liên tiếp trước phẫu thuật, trong ngày phẫu thuật, và tiếp tục trong 4 ngày sau phẫu thuật. Nếu Hb ≤ 13g/dl thì dùng liều 300UI/kg/ngày.
Khi thực hiện việc đánh giá về mặt huyết học trong giai đoạn trước phẫu thuật, nếu mức Hb đạt 15g/dl hoặc cao hơn nên ngưng sử dụng epoetin alfa và những liều tiếp theo.

Chống chỉ định :

Bệnh nhân bị bất sản nguyên hồng cầu qua trung gian kháng thể sau khi điều trị bằng bất kỳ erythopoetin nào, không nên dùng Epoetin alfa hoặc bất kỳ chế phẩm erythopoetin khác.
Cao huyết áp không kiểm soát được. Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất cứ tá dược nào. Các bệnh nhân dùng Epoetin alfa cho chương trình hiến máu tự thân điều trị phải tôn trọng các chống chỉ định này. Bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật không thể nhận điều trị dự phòng kháng đông đầy đủ. Chống chỉ định dùng Epoetin alfa cho những bệnh nhân lên chương trình phẫu thuật chỉnh hình có chọn lọc và không tham gia chương trình hiến máu tự thân mà bị bệnh mạch vành trầm trọng, động mạch ngoại vi, động mạch cảnh, mạch máu não, bao gồm những bệnh nhân nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não gần đây. Bệnh nhân phẫu thuật không được phòng ngừa đầy đủ chứng huyết khối nghẽn mạch.

Tác dụng phụ

Tổng quát:
Hội chứng giống cúm: chóng mặt, ngủ gà, nhức đầu, đau khớp và mỏi mệt có thể xảy ra đặc biệt khi bắt đầu điều trị.
Tăng tiểu cầu rất hiếm.
Huyết khối và biến cố mạch máu như thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não (xuất huyết não và nhồi máu não) thiếu máu thoáng qua, huyết khối tĩnh mạch sâu, huyết khối động mạch, nghẽn mạch phổi, phình mạch, huyết khối võng mạc, đông máu ở thận nhân tạo được ghi nhận ở bệnh nhân dùng các chế phẩm erythropoietin, bao gồm cả bệnh nhân dùng Epoetin alfa. Tuy nhiên chưa biết được nguyên nhân gây ra sự liên quan giữa Epoetin alfa với những biến cố trên.
Ngứa da không đặc hiệu.
Phản ứng da tại nơi tiêm: ở bệnh nhân dùng đường tiêm dưới da nhiều hơn bệnh nhân tiêm tĩnh mạch. Có thể ban đỏ, nóng, đau quanh nơi tiêm với mức độ nhẹ đến trung bình.
Phản ứng miễn dịch: rất hiếm.
Bệnh nhân suy thận:
Thường gặp là tăng huyết áp phụ thuộc liều hay tăng thêm bệnh cao huyết áp hiện có (việc tăng huyết áp này được điều trị dễ dàng bằng thuốc. Vì vậy nên theo dõi huyết áp đặc biệt là khi bắt đầu điều trị.
Một số phản ứng có thể xảy ra đối với vài cá thể riêng lẻ có huyết áp thấp hoặc bình thường như cơn cao huyết áp với những triệu chứng giống bệnh não (nhức đầu, lú lẫn) và cơn động kinh toàn thể co cứng cần được chú ý tập trung chữa trị ngay. Ðặc biệt chú ý đến nhức đầu dữ dội thình lình giống như đau nửa đầu.
Huyết khối cầu nối có thể xảy ra ở bệnh nhân thẩm phân máu, đặc biệt ở những người huyết áp thấp hay người đang có biến chứng ở đường dò tĩnh mạch (có thể dùng acid acetylsalicylic để dự phòng chữa huyết khối sớm).
Ở bệnh nhân suy thận mạn, bất sản nguyên hồng cầu qua trung gian kháng thể hiếm khi xảy ra sau nhiều tháng đến nhiều năm sử dụng erythropoietin.
Bệnh nhân ung thư:
Ðặc tính an toàn ở bệnh nhân ung thư điều trị với Epoetin alfa không thay đổi theo tiến triển bệnh. Bởi vì cao huyết áp có thể xảy ra ở những bệnh nhân điều trị bằng Epoetin alfa, do đó nên theo dõi chặt chẽ Hb và huyết áp.
Tần suất gia tăng của tai biến huyết khối nghẽn mạch cho thấy ở bệnh nhân dùng các chế phẩm erythropoietin, bao gồm cả bệnh nhân dùng Epoetin alfa.
Trong một nghiên cứu ở phụ nữ bị phụ nữ bị ung thư vú ác tính, dự định sử dụng liều điều trị của erythropoetin cao hơn nhiều liều điều trị thiếu máu để cải thiện kết quả điều trị cho thấy tỉ lệ tử vong chung, tỉ lệ tử vong do tiến triễn của bệnh và tai biến huyết khối nghẽn mạch chết người cao hơn so với nhóm giả dược.
Bệnh nhân nhiễm HIV:
Ðặc tính an toàn ở bệnh nhân nhiễm HIV điều trị với Epoetin alfa không thay đổi theo tiến triển bệnh.
Bệnh nhân người lớn phẫu thuật tham gia chương trình tiền hiến máu tự thân.
Huyết khối và biến cố mạch máu có thể xảy ra 1 cách độc lập với việc sử dụng Epoetin alfa ở những bệnh nhân phẫu thuật có bệnh về tim mạch theo sau bởi mở tĩnh mạch lặp lại. Vì vậy nên thay thể tích máu thường qui ở bệnh nhân trong chương trình hiến máu tự thân.
Bệnh nhân người lớn chuẩn bị phẫu thuật (không hiến máu tự thân):
Ở những bệnh nhân có mức Hb > 13g/dl, không thể loại trừ khả năng epoetin alpha có thể làm tăng nguy cơ huyết khối và biến cố mạch máu thời kỳ hậu phẫu. Vì vậy không dùng cho bệnh nhân có Hb > 13g/dl.
Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

Bạn đọc phản hồi ( 0 )

Bình luận

Hỏi đáp
Thuốc biệt dược
Recormon

Recormon

SĐK:VN-5355-10
Epoetin beta

Eprex 1000

SĐK:VN-13192-11
Epoetin Alfa

Recormon

SĐK:VN-11867-11
Epoetin beta

Recormon

SĐK:VN-11866-11
Epoetin beta

Eprex 3000

SĐK:VN-13194-11
Epoetin Alfa

Eprex 10 000

SĐK:VN-13191-11
Epoetin Alfa

Thuốc gốc

Acid zoledronic

Zoledronic acid

Nadroparin

Nadroparin calcium

Pentoxifylline

Pentoxifyllin

Ferrous gluconate

Sắt gluconate

Ferrous fumarate

Sắt fumarat

Epoetin beta

Epoetin beta

Hydroxyethyl starch

Hydroxyethyl starch

Prasugrel

Prasugrel

Apixaban

Apixaban

Deferasirox

Deferasirox

Epoetin Alfa

Epoetin Alfa

Thuoc biet duoc | Thuốc biệt dược | Thuốc | Thuoc | Nhà thuốc | Phòng khám | Bệnh viện | Công ty dược phẩm
- Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn chỉ mang tính chất tham khảo - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
"Thông tin Thuốc và Biệt Dược" - Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn