Home> Tra cứu Thuốc > Thuốc gốc > Testosterone Quay lại

Testosterone

Nhóm Dược lý:
Tên Biệt dược :Androgel; Tesmon Injection; Testosterone Propionate Injection Tai Yu
Dạng bào chế :Gel thoa ngoài da; Dung dịch tiêm
Thành phần :Testosterone undecanoate
thuocbietduoc.com.vn, thuốc gốc, thuốc,thuoc, thuoc goc
Dược lực :
Các nội tiết tố nam nội sinh, chủ yếu là testosterone, được tiết ra bởi tinh hoàn và chất chuyển hóa chính của nó là DHT, chịu trách nhiệm cho sự phát triển các cơ quan sinh dục bên ngoài và bên trong, duy trì các đặc tính sinh dục thứ phát (kích thích phát triển lông, vỡ giọng, xuất hiện khoái cảm), và chịu trách nhiệm cho tác dụng chung trên sự đồng hóa protein, cho sự phát triển cơ bám xương, phân bố mỡ trên cơ thể, cho việc hạn chế sự bài tiết nitơ, natri, kali, clo, phospho và nước qua nước tiểu. Testosterone không gây ra sự phát triển tinh hoàn: nó làm giảm sự bài tiết các hormon hướng sinh dục (gonadotrophin) của tuyến yên.
Dược động học :
Sự hấp thu testosterone qua da biến đổi trong khoảng từ 7% đến 13% cho một liều dùng.
Sau khi được hấp thu qua da và bão hòa bể chứa da, testosterone khuyếch tán vào tuần hoàn toàn thân với nồng độ tương đối ổn định trong suốt chu kỳ 24 giờ. Nồng độ testosterone trong huyết thanh tăng từ giờ đầu tiên sau khi bôi thuốc và đạt trạng thái ổn định kể từ ngày thứ 2. Sau đó sự biến thiên của nồng độ testosterone hàng ngày có biên độ tương tự như biên độ đã được quan sát trong nhịp xuất hiện một lần mỗi ngày của testosterone nội sinh. Do đó, đường qua da tránh được các đỉnh khuyếch tán trong máu xảy ra khi sử dụng đường tiêm. Ðường qua da không gây ra nồng độ steroid trong gan quá mức sinh lý, ngược lại với liệu pháp hormon nam qua đường uống.
5g Testosterone đưa vào tạo một nồng độ testosterone trung bình khoảng 2,5ng/ml.
Khi ngưng điều trị, nồng độ testosterone bắt đầu sụt giảm khoảng 24 giờ sau liều cuối cùng. Nồng độ testosterone sẽ trở lại mức căn bản khoảng 72 đến 96 giờ sau liều cuối cùng.
Các chất chuyển hóa chính có hoạt tính chủ yếu của testosterone là dihydrotestosterone và estradiol. Thuốc được đào thải chủ yếu qua nước tiểu và qua phân dưới dạng các chất chuyển hóa testosterone liên hợp.
Tác dụng :
Testosteron là hormon nam chính do các tế bào kẽ của tinh hoàn sản xuất dưới sự điều hoà của các hormon hướng sinh dục của thuỳ trước tuyến yên và dưới tác động của hệ thống điều khiển ngược âm tính lên trục vùng dưới đồi- tuyến yên-tinh hoàn. Testosteron làm phát triển cơ quan sinh dục nam, làm xuất hiện và bảo tồn đặc tính sinh dục phụ ở nam giới.
Vỏ thượng thận và buồng trứng cũng bài tiết một lượng hormon sinh dục nam kém mạnh hơn và sau khi chuyển hoá sẽ cho một lượng nhỏ testosteron lưu hành.
Chỉ định :
Liệu pháp thay thế để điều trị chứng giảm năng tuyến sinh dục ở nam giới do suy giảm testosterone, được xác nhận qua các triệu chứng lâm sàng và sinh học.
Chống chỉ định :
Các hormon nam bị chống chỉ định:
- Trong trường hợp carcinom (ung thư biểu mô) ở vú hoặc ung thư tiền liệt tuyến, nghi ngờ hoặc đã xác định.
- Trường hợp nhạy cảm đối với testosterone hoặc với bất cứ thành phần nào của gel.
Testosterone không được chỉ định dùng cho phụ nữ và chưa được thử nghiệm lâm sàng trên phụ nữ. Ở phụ nữ mang thai, Testosterone có thể tác dụng có hại trên bào thai là gây nam hóa.
Thận trọng lúc dùng :
Trước khi tiến hành điều trị bằng testosterone, các bệnh nhân lớn tuổi và các bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ (có các yếu tố lâm sàng hoặc gia đình) phải trải qua một cuộc khám cặn kẽ để loại trừ mọi nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến có từ trước. Ở các bệnh nhân được điều trị bằng testosterone, cần phải theo dõi tiền liệt tuyến cẩn thận và thường xuyên theo các phương pháp đã được khuyến cáo.
- Một nghiên cứu tiến hành trên người tình nguyện khoẻ mạnh đã chứng minh là testosterone có khả năng được truyền sang một người khác trong quá trình tiếp xúc da, gần và trong một khoảng thời gian tương đối dài với vùng đã được bôi gel. Mặc quần áo che phủ vùng được bôi gel hoặc tắm rửa trước khi tiếp xúc cho phép tránh được sự chuyển dịch testosterone này.
Do đó, khuyến cáo các thận trọng sau đây:
Ðối với bệnh nhân:
- Rửa tay bằng nước và xà phòng sau khi bôi gel.
- Sau khi chỗ bôi đã khô, mặc quần áo che phủ chỗ được bôi gel.
- Tắm rửa trước bất kỳ trường hợp nào mà dự kiến là có kiểu tiếp xúc này.
Ðối với người không điều trị bằng Testosterone:
- Trường hợp có tiếp xúc với vùng da được bôi gel nhưng chưa được rửa hoặc che phủ bởi quần áo, cần phải rửa ngay vùng da mà có thể bị truyền testosterone càng sớm càng tốt bằng nước và xà phòng.
- Báo cáo về sự xuất hiện các dấu hiệu nam tính hóa như bị mụn hoặc thay đổi hệ thống lông tóc.
Theo các nghiên cứu in vitro về sự hấp thu testosterone được tiến hành với Testosterone, tốt nhất là phải đợi 6 tiếng đồng hồ sau khi bôi gel mới được tắm. Tuy nhiên, nếu thỉnh thoảng bệnh nhân tắm trong khoảng thời gian từ 1 đến 6 tiếng đồng hồ sau khi bôi gel thì không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả điều trị.
Tác động của thuốc khi lái xe và vận hành máy móc:
Testosterone không có tác động nào đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc.
LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ
Chống chỉ định sử dụng Testosterone cho phụ nữ có thai hay cho con bú. Chưa có một nghiên cứu lâm sàng nào được thực hiện về thuốc Testosterone trên phụ nữ. Phụ nữ có thai phải tránh mọi tiếp xúc với các vùng được bôi Testosterone. Thuốc này có tác dụng có hại là nam hóa trên bào thai. Trường hợp có tiếp xúc, cần rửa với nước và xà phòng càng sớm càng tốt.
Tương tác thuốc :
Cần thận trọng đối với các phối hợp sau đây:
- Các thuốc chống đông máu bằng đường uống:
Thay đổi hoạt tính của thuốc chống đông máu (thay đổi sự tổng hợp các yếu tố đông máu ở gan, và ức chế cạnh tranh việc gắn kết với protein huyết tương với khuynh hướng tăng tác dụng của thuốc chống đông bằng đường uống): kiểm tra tỷ lệ prothrombin và theo dõi INR thường xuyên hơn. Cần điều chỉnh liều thuốc chống đông máu bằng đường uống cho phù hợp trong quá trình điều trị bằng Testosterone và 8 ngày sau khi ngưng Testosterone.
Tương tác với các xét nghiệm: Các nội tiết tố nam có thể làm giảm tỷ lệ globulin gắn với thyroxin gây sụt giảm nồng độ T4 huyết tương và tăng sự hấp thu trên nhựa của T3 và T4. Tuy nhiên, nồng độ hormon giáp trạng tự do không thay đổi và không có biểu hiện lâm sàng nào của suy tuyến giáp.
Tác dụng phụ
Ở liều được khuyến cáo là 5g gel mỗi ngày, tác dụng ngoại ý thường được ghi nhận nhất là các phản ứng da (10%): phản ứng xảy ra tại vị trí được thoa Testosterone, ban đỏ, nổi mụn, da khô.
Các tác dụng ngoại ý khác được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng với Testosterone gồm có: nhức đầu, hói đầu, chứng vú to ở đàn ông, đau vú, rối loạn tiền liệt tuyến, tiêu chảy, chóng mặt, suy nhược, cao huyết áp, rối loạn tính khí, thay đổi các xét nghiệm sinh học (tăng hồng cầu...), giảm khoái cảm, tăng cảm giác, dị cảm.
Các tác dụng ngoại ý khác được ghi nhận qua các điều trị bằng testosterone uống hoặc tiêm gồm có: thay đổi tiền liệt tuyến và phát triển ung thư tiền liệt tuyến cận lâm sàng, ngứa, giãn động mạch, buồn nôn, vàng da ứ mật, thay đổi các xét nghiệm chức năng gan; và thay đổi điện giải (ứ natri, kali, calci, phosphat vô cơ và nước), giảm tinh dịch, cương đau dương vật (cương thường xuyên hoặc kéo dài) trong trường hợp điều trị với liều cao và kéo dài.
Vì thuốc có chứa cồn nên bôi trên da thường xuyên có thể gây kích ứng và khô da.
Liều lượng :
Người lớn và bệnh nhân lớn tuổi:
Liều dùng là 5g gel (tương ứng 50 mg testosterone) thoa một lần/ngày, gần như là vào cùng một thời điểm, tốt nhất là vào buổi sáng.
Liều hàng ngày sẽ do bác sĩ điều chỉnh, tùy thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân về mặt lâm sàng và sinh học, nhưng không vượt quá 10g gel mỗi ngày.
Bệnh nhân phải tự thoa gel trên phần da sạch, khô và lành mạnh ở vùng vai, cánh tay và/hoặc bụng.
Sau khi mở gói, lấy toàn bộ thuốc trong gói ra và bôi ngay trên da. Sau khi thoa gel, để khô vài phút trước khi mặc quần áo. Cần rửa tay với xà phòng và nước sau khi sử dụng gel.
Không được thoa gel trên bộ phận sinh dục.
Nồng độ testosterone trong huyết tương đạt được trạng thái ổn định khoảng từ ngày thứ 2. Ðể điều chỉnh liều testosterone, cần phải đo nồng độ testosterone trong máu trước khi dùng thuốc và kể từ ngày thứ 3 sau khi bắt đầu dùng thuốc. Có thể giảm liều nếu nồng độ testosterone trong huyết tương cao. Nếu nồng độ thấp, có thể tăng liều dùng nhưng không vượt quá 10g gel mỗi ngày.
Trẻ em:
Testosterone không được chỉ định ở trẻ em và chưa được thử nghiệm lâm sàng ở các em trai dưới 18 tuổi.
Qúa liều :
Chỉ có một trường hợp quá liều testosterone cấp sau khi tiêm đã được báo cáo trong y văn. Ðây là một trường hợp bị tai biến mạch máu não trên bệnh nhân có nồng độ testosterone trong huyết tương cao 114ng/mL (395nmol/l). Việc sử dụng testosterone bằng đường xuyên qua da hoàn toàn không thể có khả năng gây ra một nồng độ testosterone huyết tương cao đến như vậy.
Bảo quản:
Thuốc độc bảng B.
Bảo quản nhiệt đọ phòng 15-30 độ C, tránh ánh sáng.

thuocbietduoc.com.vn, thuốc và biệt dược, thuoc
Thuoc biet duoc | Thuốc biệt dược | Thuốc | Thuoc | Nhà thuốc | Phòng khám | Bệnh viện | Công ty dược phẩm
Kiện tỳ | Kien ty pt | Coenzyme q10 | Thuốc tim mạch | QPLUS SUPER | Dược phẩm | Vietnam Pharmaceutical Import |
Mang thai | Prenatal | Chăm sóc trẻ | Nấm candida | Bệnh phụ khoa | Viêm âm đạo | Safaria | Tim mạch |
Vitamin bà bầu | Vitamin ba bau | Prenatal | PS-IQ bổ não | OMEGA 3 | Chống lão hóa |
- Các thông tin về thuốc trên Thuocbietduoc.com.vn chỉ mang tính chất tham khảo - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
- Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Thuocbietduoc.com.vn
"Thông tin Thuốc và Biệt Dược" - Giấy phép ICP số 235/GP-BC.
© Copyright Thuocbietduoc.com.vn - Email: contact@thuocbietduoc.com.vn